Chương 17
Cảm Ứng
21px
Trên đường rời phòng mô hình, Lya đề nghị bắt đầu huấn luyện ngay khi họ trở về khu sinh thái.
Khoa từ chối. Không phải vì kiệt sức. Sau cuộc trao đổi với Taren, mọi quầng sáng đều đậm hơn và các đường nét ở rìa thị trường liên tục rung nhẹ. Nếu bắt đầu một phép thử trong trạng thái ấy, anh sẽ không phân biệt được tác động của phương pháp với dư âm từ quá tải chú ý.
“Tôi cần ngủ đủ một chu kỳ, ghi lại nhịp tim và xem hiện tượng có trở về mức nền hay không.”
Lya đồng ý, đưa anh về cấu trúc ven hồ rồi rời đi để anh nghỉ.
Khoa đặt đồng hồ bầu dục chạy liên tục cạnh bệ nằm, để dải đo ghi nhịp tim, chuyển động và nhiệt độ da. Anh ngủ sau mười chín phút theo bộ đếm.
Khi tỉnh lại, sáu giờ bốn mươi tám phút đã trôi qua.
Không có khoảng mất trong dữ liệu. Nhịp tim giảm đều, đạt mức thấp nhất bốn mươi chín rồi tăng trở lại trước khi anh mở mắt. Anh nhớ hai giấc mơ ngắn, cả hai đều ở xưởng số 4, nhưng trong một giấc M-17 có mười bảy bánh xe thay vì sáu. Não đã đưa hình học mới vào ký ức cũ theo cách hoàn toàn bình thường.
Quầng sáng quanh tay anh gần như biến mất, tạo cho phép thử một mốc nền tốt hơn.
Lya đến khi anh ăn xong phần thức ăn màu vàng còn lại. Cô mang theo ba khối cầu trong suốt giống nhau và một dải vật liệu rộng bằng bàn tay.
“Nếu đây là buổi huấn luyện,” Khoa nói, “tôi cần biết tiêu chí dừng.”
“Đau đầu tăng nhanh, mất định hướng, không còn phân biệt được lời truyền với suy nghĩ của mình, hoặc nhịp tim vượt giới hạn anh đặt.”
“Một trăm hai mươi.”
“Thấp hơn khả năng chịu của cơ thể anh.”
“Tôi đang kiểm tra thần kinh, không kiểm tra tim.”
Lya chấp nhận bằng một cái nghiêng đầu.
Họ đi tới một khoảng rừng cách khu định cư gần nửa giờ. Mặt đất ở đây phủ lớp rêu xám và không có sinh vật bốn cánh. Giữa khoảng trống là một bệ đá, xung quanh có sáu điểm đánh dấu cách đều.
Lya đặt ba khối cầu lên bệ.
“Trong mỗi khối là cùng một vật liệu nền,” cô nói. “Một khối không có phần tương tác mà anh đang học nhận biết. Hai khối còn lại có mật độ khác nhau.”
“Cô biết vị trí.”
“Hiện tại.”
“Tôi muốn thử mù đôi.”
Lya nhìn anh, chờ phần giải thích không được truyền trọn qua câu chữ.
“Nếu cô ở đây và biết đáp án, phản ứng của cô có thể gợi ý cho tôi. Vô thức cũng đủ. Cần một người khác đổi vị trí các mẫu trong khi cả hai chúng ta không quan sát.”
“Sau đó người ấy cũng không ở gần.”
“Đúng.”
Lya mang ba khối cầu đi. Mười hai phút sau, chúng trở lại trên bệ, nhưng không do cô cầm. Một mặt phẳng tối trồi khỏi sàn, để các khối cầu xuống rồi rút đi. Không có người Nara nào trong tầm nhìn.
“Thứ tự được hệ thống chọn và khóa,” Lya nói. “Tôi không biết.”
Khoa đánh số vị trí từ trái sang phải trên dải đo. Anh kiểm tra ba khối bằng phần cảm biến thông thường trước. Nhiệt độ bằng nhau trong sai số một phần mười độ. Khối lượng chênh dưới độ phân giải thiết bị. Không có bức xạ ion hóa hoặc trường điện từ đáng kể theo giao diện được cung cấp.
“Ánh sáng quanh vật liệu có phải bức xạ không?” anh hỏi.
“Không theo định nghĩa của thiết bị Bậc Hai.”
“Vậy tại sao tôi thấy nó?”
“Anh không thật sự nhìn thấy ánh sáng. Não anh dùng thị giác để biểu diễn một tín hiệu chưa có vùng xử lý riêng.”
“Giống hiện tượng liên kết giác quan?”
“Gần như vậy. Nhưng đầu vào không đến từ thính giác, xúc giác hay võng mạc.”
“Đến từ đâu?”
Lya chạm hai ngón tay vào giữa ngực rồi lên thái dương. “Từ tương tác của toàn cấu trúc sống với môi trường, sau đó được hệ thần kinh phiên dịch.”
Một mô tả rộng đến mức khó bác bỏ. Khoa không dùng nó làm tiền đề.
“Vậy quầng quanh người Nara cũng là cùng một tín hiệu?”
“Cùng nguồn, phức tạp hơn. Vật liệu chỉ giữ một mật độ tương đối ổn định. Cơ thể sống liên tục làm thay đổi quan hệ của nó với trường chung quanh.”
Khoa nhớ những người anh đã gặp trong khu định cư. Có người chỉ mang một lớp sáng mỏng sát da. Có người để lại những dải màu kéo dài sau cử động rồi khép lại. Quầng quanh Lya vươn xa hơn thân thể cô, nhưng giữ đường biên ổn định ngay cả khi cô bước đi.
Taren thì không giống bất kỳ ai trong số đó. Nhìn thẳng vào ông, Khoa vẫn thấy hình người. Nhưng phần chú ý dùng để nhận quầng sáng lại trượt khỏi khoảng không quanh ông, như thiết bị đo gặp một giá trị nằm ngoài miền hiệu chuẩn và trả về ô trống.
“Tôi không chỉ thấy có hay không,” Khoa nói. “Cấu trúc quanh mỗi người khác nhau.”
“Đúng.”
“Nó cho biết họ mạnh đến đâu?”
“Nó cho biết trường của họ được tổ chức theo cách nào. Sức mạnh chỉ là một hệ quả, không phải lúc nào cũng là hệ quả quan trọng nhất.”
“Nhưng mức tổ chức cao hơn sẽ tạo biểu hiện khác.”
“Thường là vậy.”
“Quầng của cô có biên. Quanh Taren, tôi không giữ được sự chú ý đủ lâu để tìm biên.”
Lya im lặng trong một nhịp. Quầng quanh vai cô co lại rất nhẹ; lần đầu tiên Khoa nhận ra thay đổi ấy đến trước câu trả lời.
“Anh không nên nhìn vào Taren quá lâu khi chưa phân biệt được tín hiệu với phản ứng của mình.”
“Vì ông ấy có thể làm tôi bị thương?”
“Vì hệ thần kinh của anh sẽ cố biểu diễn một cấu trúc lớn hơn khả năng xử lý hiện tại. Tổn thương, nếu có, sẽ do anh tiếp tục ép nó tạo ra hình ảnh.”
Như nhìn nguồn sáng mạnh, nhưng thứ quá tải không phải võng mạc. Khoa ghi thêm một giả thuyết: quầng sáng không phải hào quang và độ sáng không phải thang đo tuyến tính. Một người ở mức cao hơn thậm chí có thể hiện thành khoảng thiếu dữ liệu.
“Vậy tôi có thể dùng nó để phân loại từng người.”
“Ước lượng,” Lya sửa. “Một người bị thương có thể trông yếu hơn. Một người đang liên kết với cấu trúc ở xa có thể trông lớn hơn. Người biết thu trường có thể khiến anh không nhận ra gì. Và chính trạng thái của anh làm phép đo thay đổi.”
“Nói cách khác, đây là cảm biến chưa hiệu chuẩn.”
“Nếu cách gọi đó khiến anh thận trọng hơn, đúng.”
Anh đứng ở điểm đánh dấu đầu tiên, cách các khối cầu ba mét. Khi nhìn trực tiếp, cả ba đều trong suốt. Khi chuyển chú ý ra rìa, khối giữa có một viền xám rất yếu. Khối bên phải dường như mang sắc xanh, nhưng màu mất ngay khi anh cố tập trung.
Khoa ghi nhận dự đoán ban đầu: trái rỗng, giữa thấp, phải cao.
Anh đổi vị trí quan sát. Thứ tự cảm nhận giữ nguyên ở bốn trong sáu góc. Hai góc còn lại, phản chiếu từ mái sáng làm cả ba có viền trắng giống nhau. Anh che mắt, đợi ba mươi giây rồi nhìn lại. Dự đoán không đổi.
Lya mở khóa kết quả.
Trái thấp. Giữa rỗng. Phải cao.
Khoa đúng một trong ba. “Khả năng ngẫu nhiên,” anh nói.
“Anh phân biệt được mẫu cao.”
“Hoặc tôi chọn màu nổi nhất.”
Anh yêu cầu xáo lại.
Ở lần hai, Khoa đúng mẫu rỗng nhưng đảo hai mức còn lại. Lần ba, anh sai cả ba. Đến lần bốn, đau âm ỉ xuất hiện sau mắt, còn màu quanh mọi vật trở nên bão hòa hơn. Anh dừng phép thử trước khi nhịp tim chạm chín mươi.
“Càng cố, độ chính xác càng giảm,” anh nói.
“Anh đang tăng độ nhạy cùng lúc với tăng nhiễu.”
“Có cách đo riêng hai thứ không?”
“Có. Trước hết anh phải tạo được một trạng thái lặp lại.”
Lya không bảo anh nhắm mắt hay tưởng tượng dòng năng lượng. Cô yêu cầu anh chọn một chuỗi vận động đơn giản mà cơ thể có thể thực hiện giống nhau nhiều lần.
Khoa chọn nhịp thở bốn giai đoạn: hít vào bốn giây, giữ hai, thở ra sáu, nghỉ hai. Anh thêm động tác xoay cổ tay ở đầu mỗi chu kỳ để tạo mốc vận động có thể nhìn thấy trên bản ghi. Sau năm chu kỳ, anh thực hiện bài kiểm tra chú ý: lần lượt nhận biết áp lực bàn chân, nhịp mạch ở ngón tay, âm thanh dòng nước, rồi ba khối cầu.
“Tại sao thở ra dài hơn?” Lya hỏi.
“Để hạ kích hoạt sinh lý. Nếu quầng sáng giảm cùng nhịp tim, tôi cần biết đó là thay đổi tín hiệu hay chỉ thay đổi trạng thái thần kinh.”
“Và cổ tay?”
“Đánh dấu đầu chu kỳ cho camera. Tôi không muốn dựa vào cảm giác thời gian.”
Lya ngồi ngoài tầm nhìn, không truyền thêm lời.
Sau chuỗi đầu, mạch Khoa giảm từ tám mươi bốn xuống bảy mươi ba. Cảm giác đau mắt không tăng. Anh nhìn ba khối cầu trong ba giây, quay đi mười giây, rồi lặp lại. Không cố tìm màu. Chỉ ghi xem vật nào tạo ra cảm giác khó giữ đường biên nhất.
Lần xáo thứ năm: đúng cả ba.
Lần sáu: đúng mẫu cao và rỗng, sai mẫu thấp.
Lần bảy: đúng cả ba.
Khoa dừng lại dù kết quả đang tốt hơn.
“Vì sao?” Lya hỏi.
“Nếu tiếp tục tới lúc mệt, tôi sẽ chọn điểm dừng có lợi cho giả thuyết.”
Anh tính nhanh trên dải đo. Số lần thử còn quá nhỏ; xác suất đoán đúng không thấp đến mức loại ngẫu nhiên một cách chắc chắn, nhất là khi cách anh tự chấm cảm giác đã thay đổi giữa các lượt. Nhưng sự cải thiện sau chuỗi thở đủ để thiết kế lần kiểm tra tiếp theo.
Khoa lưu quy trình dưới tên tạm: Giao thức Hô hấp M0. Chữ M chỉ *mức*, số không đánh dấu trạng thái nền: nhận được tín hiệu nhưng chưa chủ động dẫn hay làm thay đổi nó.
“Các cô gọi trạng thái này là gì?” anh hỏi.
“Tên gần nhất trong ngôn ngữ của anh là Cảm Ứng.”
“Tôi chưa đạt nó.”
“Anh đã phân biệt được tín hiệu có và không trong điều kiện kiểm soát.”
“Bảy lượt không đủ.”
“Tên không phải chứng nhận.”
“Vậy tôi sẽ dùng nó sau khi lặp lại được vào ngày khác.”
Lya không phản đối.
Khoa nhìn quầng sáng quanh tay mình. Nó mỏng hơn lớp quanh những người Nara anh đã gặp và tan mỗi khi nhịp thở rối.
“Cảm Ứng là bước đầu,” anh nói. “Sau nó là gì?”
Lya ngồi xuống mép bệ. “Anh muốn biết bài tập kế tiếp hay toàn bộ con đường?”
“Toàn bộ. Tôi không thử một quy trình có thể thay đổi hệ thần kinh mà không biết hướng nó dẫn tới.”
“Biết tên các tầng không có nghĩa anh đã hiểu chúng.”
“Nhưng không biết thì tôi còn không thể đặt câu hỏi đúng.”
Lya đặt một khối cầu rỗng trước mặt anh, rồi đặt hai khối có tương tác thành một đường kéo dài về phía khu định cư.
“Đầu tiên, một cấu trúc sống nhận ra trường ngoài nó. Anh gọi mức ấy là Cảm Ứng. Sau đó, nó học cách đưa tương tác đi qua hệ thần kinh thay vì chỉ tiếp nhận thụ động.”
“Dẫn Nhập,” Khoa đặt tên.
“Tên đó dùng được. Khi dòng tương tác có thể lặp lại mà không phá tổ chức thần kinh, cơ thể bắt đầu thay đổi để chịu nó: xương, cơ, mô liên kết, phản xạ.”
“Tôi Thể.”
Lya nhìn anh. “Anh đang biến mô tả thành nhãn rất nhanh.”
“Nhãn có thể sửa. Thứ tự thì không.”
Cô tiếp tục. “Sau khi cơ thể giữ được trạng thái riêng, nó có thể tạo quan hệ ổn định với vật chất và trường chung quanh. Không chỉ cảm nhận môi trường, mà khiến môi trường phản hồi.”
“Cộng Hưởng.”
Lya chỉ quầng sáng quanh chính mình. “Tầng tiếp theo giữ được một trường có biên bên ngoài cơ thể. Nó có thể tạo lực, giữ nhiệt, áp suất và giảm một phần bức xạ. Nhưng không sinh ra vật chất hay năng lượng từ hư không.”
Khoa nhớ Oru-Ka đổi hướng không nghiêng thân. “Ngoại Trường.”
“Tên đó gần nghĩa chúng tôi dùng.”
“Cô ở tầng này.”
“Theo cách phân loại anh vừa tạo, đúng.”
“Taren cao hơn.”
“Ông ấy có thể nối cấu trúc của mình với mạng trường lớn hơn cơ thể, giữ bản thân qua nhiều điểm thay vì một biên riêng.”
“Đồng Hóa.”
Lya không xác nhận ngay. “Tên ấy dễ khiến anh tưởng cá thể phải tan vào toàn thể. Đó là một nguy cơ, không phải mục tiêu. Nhưng tạm thời có thể dùng.”
Khoa ghi sáu dòng lên dải đo, từ M0 đến M5. Mỗi dòng gồm tên, biểu hiện quan sát được và điều chưa chứng minh. Anh không dùng từ *cảnh giới*. Đó mới chỉ là một mô hình phân loại năng lực.
“Còn sau Đồng Hóa?”
“Nara có mô hình, không có bằng chứng hoàn chỉnh. Nếu một cấu trúc ý thức có thể giữ bản ngã mà không còn phụ thuộc vào một cơ thể, một hành tinh hay hình học không gian cục bộ, nó sẽ vượt khỏi các giới hạn chúng tôi đang biết.”
“Các cô đã gặp ai làm được chưa?”
“Chưa.”
“Vậy M6 là giả thuyết.” Khoa thêm dòng cuối. “Siêu Thoát.”
Lya nhìn bảy mức trên dải đo. “Đừng nhầm bản đồ với tự nhiên. Không phải ai cũng đi qua chúng theo cùng tốc độ, và đường biên giữa hai tầng không sắc như đường anh vừa kẻ.”
“Bản đồ kỹ thuật nào cũng là phép xấp xỉ.”
“Và phép xấp xỉ trở nên nguy hiểm khi người tạo ra nó quên phần đã bỏ đi.”
Khoa thêm câu cảnh báo của cô vào đầu hồ sơ.
Họ trở lại vào chu kỳ sáng kế tiếp của mái trời. Khoa ngủ, ăn và ghi dữ liệu nền giống ngày trước. Lần kiểm tra thứ hai dùng năm khối thay vì ba, trong đó hai khối rỗng, hai mức thấp và một mức cao. Hệ thống xáo vị trí sau mỗi lượt; Lya đứng ngoài vùng thử.
Khoa thực hiện đúng chuỗi thở, động tác cổ tay và bài chuyển chú ý. Anh không ghi màu, vì màu thay đổi theo góc nhìn và kỳ vọng. Anh chỉ phân loại ba mức: không có lực kéo chú ý, có nhưng không ổn định, rõ.
Mười lượt đầu, anh xác định đúng mẫu cao chín lần. Hai mẫu rỗng được nhận đúng mười sáu trên hai mươi vị trí. Mức thấp gần với ngẫu nhiên.
Ở lượt mười một, Lya bí mật thay toàn bộ bằng mẫu rỗng theo yêu cầu kiểm soát từ trước của Khoa. Anh phân loại bốn khối rỗng và một khối thấp.
Dương tính giả vẫn tồn tại trong điều kiện kiểm soát.
Ở lượt mười hai, cô giữ toàn bộ mẫu rỗng nhưng truyền một ý niệm rất yếu khi anh bắt đầu nhìn. Khoa đánh dấu ba mẫu có tín hiệu.
Anh mở mắt, cắt bài thử. “Cô vừa can thiệp.”
“Đúng.”
“Tôi không phân biệt được nguồn vật liệu với nguồn giao tiếp.”
“Chưa phân biệt được.”
Khoa thêm một bước vào quy trình: trước khi quan sát mẫu, Lya phải truyền một xung ý nghĩa trung tính; anh chờ tới khi dư âm giảm dưới ngưỡng tự chấm rồi mới bắt đầu. Mục đích không phải làm sạch hoàn toàn tín hiệu giao tiếp, mà tạo cùng một mức nhiễu đầu vào giữa các lượt.
Kết quả ba mươi lượt sau tốt hơn. Không hoàn hảo. Mẫu cao được nhận đúng tám mươi ba phần trăm, mẫu rỗng bảy mươi mốt, mức thấp năm mươi tám. Khi nhịp tim vượt chín mươi lăm hoặc anh thực hiện quá tám lượt liên tiếp, độ chính xác rơi nhanh.
Lya cho các kết quả hiện thành ba đường trên dải đo: cường độ vật liệu do hệ thống biết, phản ứng trong mô thần kinh Khoa và phân loại chủ quan anh nhập.
Đường thần kinh bắt đầu tăng trước lúc anh báo nhìn thấy viền sáng khoảng một phần năm giây.
“Thiết bị đọc não?” Khoa hỏi.
“Đọc phản ứng điện, hóa và một phần tương tác ngoài mô.”
“Phần cuối là điều đang cần chứng minh.”
“Vậy tạm bỏ nó. Hai phần đầu vẫn cho thấy phản ứng xảy ra trước báo cáo chủ quan.”
Khoa phóng lớn biểu đồ. Đúng. Thiết bị Nara có thể làm giả toàn bộ, nhưng trong mô hình nội bộ của phép thử, tín hiệu không phải sản phẩm sinh ra sau khi anh quyết định mình đã thấy ánh sáng.
Anh nhìn mẫu cao trên bệ.
Lần này không tìm quầng màu. Anh giữ nhịp thở, nhận biết áp lực dưới chân, tiếng lá và mạch cổ tay, rồi cho sự chú ý mở rộng mà không bám vào vật thể.
Một vùng hiện ra.
Không sáng. Không tối. Nó làm khoảng không quanh khối cầu có cảm giác dày hơn, như thể vị trí ấy chứa thêm một quan hệ mà mắt không thể vẽ. Viền xanh chỉ xuất hiện sau đó, là cách não anh tô màu lên điều đã nhận biết.
Khoa quay đi. Cảm giác mất. Anh nhìn lại theo cùng quy trình. Nó trở lại sau ba chu kỳ thở.
Anh lặp năm lần. Bốn lần có kết quả.
“Bây giờ tôi có thể gọi nó là gì?” Lya hỏi.
“Một tín hiệu ngoại sinh có thể lặp lại, tương quan với mẫu và bị trạng thái thần kinh điều biến.”
“Dài.”
“Nhưng chính xác hơn.”
Lya chờ.
Khoa lưu bản ghi, khóa phiên bản quy trình rồi thêm một nhãn thứ hai bên dưới.
Cảm Ứng sơ khai.
“Tại sao tôi làm được việc này sau K-17?” anh hỏi.
“Anh đã có khả năng tương thích trước đó. Quá trình cứu anh buộc cơ thể và hệ thần kinh phải tổ chức lại đủ để tín hiệu không còn bị chìm hoàn toàn.”
“Các cô chủ động thay đổi tôi?”
“Chúng tôi chủ động giữ anh ổn định. Thay đổi là một phần không tránh được của điều trị.”
Câu trả lời hợp lý với dữ liệu hiện có. Chấn thương thần kinh, can thiệp sâu và phục hồi trong một môi trường khác có thể làm thay đổi ngưỡng cảm giác. Việc anh không cảm thấy chip cũng có thể là hậu quả của cùng quá trình.
Có thể, nhưng Khoa chưa biến nó thành kết luận.
Anh tháo ba khối cầu khỏi bệ, yêu cầu hệ thống xáo lại lần cuối rồi đặt chúng sau một tấm chắn. Không nhìn màu, anh thực hiện Giao thức Hô hấp M0 và lần lượt đưa tay tới gần từng vị trí mà không chạm.
Ở vị trí thứ hai, da cẳng tay nổi gai trước khi ý thức kịp gán màu cho khoảng không.
Khoa đánh dấu nó là mẫu cao.
Tấm chắn hạ xuống.
Anh đã đúng.