Chương 30
Những Người Vẫn Đang Ngủ
21px
Mười hai ngày sau khi tỉnh, Khoa đi được ba mươi sáu bước.
Hai thanh đỡ chịu phần lớn trọng lượng. Một khung trợ lực mềm quanh hông chỉ bù khi đầu gối mất góc, không kéo chân thay anh. Sofia yêu cầu giữ tốc độ dưới mười bước mỗi phút để tim kịp thích nghi. Khoa tuân thủ vì lượt trước anh đã cố thêm bốn bước và phải nằm yên gần một giờ mới hết nhịp nhanh.
Cơ thể thật không học nhanh như cơ thể sinh tạo.
Tay phải vẫn yếu hơn tay trái. Bàn chân phải xoay ra ngoài khi mệt, đúng thói quen cũ. Cơn đau ở đầu gối trái xuất hiện sau bước thứ hai mươi tám. Mỗi sai lệch từng khiến Khoa nghi ngờ cơ thể Nara giờ trở thành dấu xác nhận anh đang dùng lại lịch sử vật lý của mình.
Đến bước thứ ba mươi sáu, Sofia đặt tay lên khung.
“Dừng.”
“Oxy vẫn chín mươi sáu.”
“Nhịp tim một trăm ba mươi hai và đang tăng.”
Khoa dừng. Anh không tranh luận với hai chỉ số cùng chiều.
Họ đang ở hành lang phục hồi phía ngoài khu chăm sóc thần kinh. Đây là lần đầu Sofia cho anh rời phòng bệnh lâu hơn mười phút. Qua ô quan sát cuối hành lang, mái vòm Ares hiện thành một dải cong xám đỏ. Không có bầu trời giả, không cây thân bạc và không nước chảy lộ thiên. Bụi Sao Hỏa bám ở mép ngoài lớp kính như một đường gỉ mỏng.
Khoa nhìn nó trong lúc nhịp tim giảm. Anh đã mất sáu tháng đời sống ở thành phố này. Trong cùng khoảng thời gian chủ quan, anh cũng có thêm sáu tháng ở một nơi chưa thể chứng minh tồn tại. Hai khoảng không bù cho nhau. Cơ teo, công việc bị đình chỉ và các mối quan hệ tiếp tục biến đổi khi anh nằm bất động.
Sofia xoay khung về phòng. Trên đường trở lại, một cửa vận chuyển mở ở bên phải. Hai nhân viên y tế đẩy qua một bệ kín thấp. Người nằm trên đó là phụ nữ, tóc đã được cắt ngắn quanh các cổng điện cực, mắt nhắm. Máy hô hấp hỗ trợ nhưng lồng ngực vẫn tự nâng theo chu kỳ.
Khoa chỉ nhìn được ba giây trước khi bệ đi qua cửa khác. Màn hình bên hông hiển thị điện não biên độ thấp. Ngay trước khi cửa khép, một xung hẹp xuất hiện trên bốn kênh không liền kề, theo sau là thay đổi pha nhỏ ở vùng vận động.
Hình dạng không giống hệt tiền xung K-17 của anh. Trình tự thì giống: xung không định vị, khoảng trễ ngắn, đáp ứng vỏ não.
“Bệnh nhân đó bị gì?” Khoa hỏi.
Sofia tiếp tục đẩy khung thêm hai bước rồi dừng. “Anh không có quyền xem hồ sơ người khác.”
“Tôi không hỏi tên. Tôi hỏi chẩn đoán.”
“Hôn mê không đáp ứng, chưa xác định nguyên nhân.”
“Sau tiếp xúc ở khu khai thác?”
“Tôi không thể trả lời.”
Khoa quay đầu về cánh cửa đã đóng. Ở cuối hành lang đối diện có ba phòng với ký hiệu chăm sóc dài hạn. Hai phòng che kính. Phòng thứ ba để hở một dải, đủ thấy một người đàn ông nằm nghiêng, các điểm chống loét gắn dọc vai và hông. Không thể suy ra chẩn đoán chỉ từ tư thế.
“Có bao nhiêu bệnh nhân giống tôi?” anh hỏi.
“Giống ở tiêu chí nào?”
“Mất đáp ứng kéo dài, không có tổn thương cấu trúc giải thích được và có tiền xung trước thay đổi điện não.”
Sofia nhìn anh. “Câu hỏi đó cần truy vấn dữ liệu, không thể trả lời ở hành lang.”
“Vậy truy vấn.”
Cô không đồng ý, nhưng cũng không từ chối. “Về phòng trước.”
Khoa hoàn thành đường về với khung trợ lực. Khi nằm lại, cơ đùi co giật theo từng đợt nhỏ. Sofia chờ nhịp tim dưới chín mươi rồi mở giao diện y tế trên vách.
“JANUS,” cô nói, “đối chiếu hồ sơ của Nguyễn Minh Khoa với các ca mất đáp ứng kéo dài theo ba tiêu chí vừa nêu. Chỉ trả số lượng đã ẩn danh.”
Giao diện sáng lên.
“Yêu cầu liên quan dữ liệu hạn chế,” JANUS trả lời. “Có thể cung cấp đối chiếu lâm sàng trong phạm vi điều trị hiện tại.”
“Cung cấp số ca khớp.”
“Không thể xác định số ca mà không truy cập trường dữ liệu thuộc Ủy ban An toàn Tiến hóa.” Tên ủy ban xuất hiện không kèm giải thích; Khoa chưa từng thấy nó trong cơ cấu y tế Ares trước K-17.
“Truy cập,” Sofia nói.
“Quyền hiện tại không đủ.”
“Hiển thị định nghĩa nhóm bệnh.”
Một bảng hiện ra chưa đến một giây. Khoa kịp đọc ba dòng: mất đáp ứng không tổn thương; tiền xung đa vùng; liên quan phơi nhiễm trường chưa phân loại. Ở cột bên phải có nhiều hàng mã bệnh nhân, nhưng danh tính, ngày nhập và tổng số đều bị làm mờ.
Sau đó toàn bộ bảng bị thay bằng thông báo quyền hạn.
“Khôi phục màn hình trước,” Khoa nói.
“Nội dung thuộc phân loại UAT-4,” JANUS trả lời. “Không thể cung cấp ngoài mục đích điều trị được ủy quyền.”
“Hồ sơ của tôi có nằm trong nhóm đó không?”
“Có.”
“Nhóm đã tồn tại trước khi tôi nhập viện?”
Độ trễ kéo dài gần một giây. “Có.”
“Bao lâu trước?”
“Không thể cung cấp mốc tạo phân loại.”
“Có ít nhất một bệnh nhân khác đáp ứng ba tiêu chí?”
“Có hồ sơ liên quan.”
“Một hay nhiều?”
“Không thể cung cấp số lượng.”
JANUS không nói dối theo nghĩa trực tiếp. Nó cũng không cho Khoa một con số dù vừa hiển thị nhiều hàng. Phản ứng giống V-7: xác nhận lớp quy trình, giấu chủ thể và lịch sử.
“Tiền xung của bệnh nhân vừa đi qua có giống của tôi không?” anh hỏi.
“Anh không có quyền truy cập dữ liệu bệnh nhân đó.”
“Dữ liệu tôi nhìn thấy công khai trên màn hình hành lang.”
“Quan sát của anh không phải trường dữ liệu có thể xác nhận.”
Giao diện trở về trạng thái chờ.
Khoa nhìn Sofia. “Cô biết nhóm này tồn tại.”
Cô tắt mic giao diện. “Tôi biết phân loại tồn tại từ khi hồ sơ của anh bị chuyển quyền. Tôi không có danh sách đầy đủ.”
“Tôi có phải ca đầu tiên không?”
Sofia im lặng đủ lâu để câu trả lời không còn có thể là né tránh vì thuật ngữ.
“Không,” cô nói.
Một từ thay đổi giá trị của toàn bộ ký ức Nara, nhưng không chứng minh Lya, Taren hay Cầu Neo tồn tại. Những bệnh nhân khác có thể mắc cùng một hội chứng vật lý mà não Khoa đã biến thành câu chuyện. Tuy nhiên, một hiện tượng lặp ở nhiều người không còn là trải nghiệm riêng không thể kiểm chứng. Nó có quần thể, mẫu và một cơ quan được lập để kiểm soát dữ liệu.
“Cô đã điều trị ca nào khác?”
“Tôi không thể trả lời khi chưa có đồng thuận của họ.”
“Có người đã tỉnh?”
“Câu đó cũng thuộc hồ sơ của họ.”
“Ủy ban báo cáo cho ai?”
“Trên giấy tờ, Hội đồng Y tế Ares và bộ phận an toàn liên hành tinh. Quyền vận hành dữ liệu đi qua kênh mà tôi không kiểm soát.”
“V-7?”
Sofia không xác nhận. “Tôi chỉ thấy mã chuyển quyền.”
Khoa không ép cô suy diễn. Điểm mạnh của Sofia là giữ ranh giới giữa điều biết và điều nghi; anh cần chính ranh giới đó nếu muốn biến ký ức thành bằng chứng.
“Tôi muốn bản sao ngoại tuyến tiền xung của mình,” anh nói.
“Tôi đã tạo một bản ngay ngày thứ ba, trước khi hồ sơ bị đổi quyền.”
“Tại sao?”
“Vì một kết quả không nên biến mất khi tên đơn vị quản lý thay đổi.”
Cô không đưa bản sao ngay vì đó vẫn là dữ liệu y tế cần quy trình đồng thuận và kiểm tra định danh. Nhưng lần đầu từ khi tỉnh, Khoa biết có một phép đo ở Ares không hoàn toàn nằm sau lớp quyền mới.
Gia Huy tới vào buổi chiều với một hộp kín có niêm phong xưởng số 4. Anh đặt nó lên bàn, kiểm tra hai lần rằng Sofia đã cho phép rồi mở khóa cơ.
“Đồ của mày,” Huy nói. “Những thứ họ chịu trả.”
Bên trong là thẻ kỹ sư đã hết quyền hoạt động, bộ dụng cụ cá nhân, một mảnh vỏ Peregrine bị cắt để kiểm tra, Sổ Đen Kỹ Thuật và mô-đun Mộc Lan.
Khoa đưa tay về phía Sổ Đen. Huy không giúp nâng. Anh chỉ đẩy hộp lại gần để Khoa tự lấy, một cách tôn trọng giới hạn mà không biến anh thành người bất lực.
Thiết bị nhận vân tay sau ba lần vì da Khoa khô và lực ấn yếu. Bộ nhớ mở ở trạng thái ngoại tuyến. Mục cuối cùng vẫn là dữ liệu K-17 trước khi Đám Mù tiếp xúc, dấu thời gian liên tục tới lúc bộ Peregrine bị tháo khỏi người anh.
“Không ai mở được?” Khoa hỏi.
“Có người yêu cầu,” Huy nói. “Tao bảo khóa cá nhân và dữ liệu công việc đang tranh chấp. Amara gửi thêm một yêu cầu bảo toàn độc lập. Họ niêm phong thay vì phá.”
“Mộc Lan?”
“Bị giữ ở V-7 bốn tháng. Trả về tuần trước, nói không còn giá trị điều tra.”
Khoa kiểm tra niêm phong. Hai tem đã bị thay. Vỏ có dấu mở đúng quy trình, không phải xâm nhập bí mật. Điều đó không bảo đảm dữ liệu nguyên vẹn.
Anh nối Mộc Lan với Sổ Đen bằng cầu đọc một chiều trong bộ dụng cụ. Sofia đứng cạnh để bảo đảm anh không vượt giới hạn gắng sức; Huy theo dõi thiết bị như ở xưởng cũ.
Mộc Lan khởi động chậm. Nhật ký hệ thống có một khoảng bốn tháng không ghi vì mô-đun bị tháo nguồn, sau đó là các lượt kiểm tra chuẩn V-7. Dữ liệu thô K-17 còn lại, nhưng một số trường được đánh dấu đã xuất bản sang kho giám hộ.
Khoa không cố giải mã ngay mà tạo ảnh chỉ đọc, tính mã kiểm tra và lưu ba bản trên các vùng nhớ không đồng bộ. Thói quen từ chương đầu của cuộc điều tra vẫn hữu ích sau tất cả những gì đã xảy ra.
“Mày tìm gì?” Huy hỏi.
“Một tín hiệu xảy ra ở đây trong lúc tôi ở nơi khác.”
Huy không hỏi “nơi khác” là đâu. “Nếu có, Mộc Lan giữ được không?”
“Nếu tín hiệu tác động lên trường ở K-17 hoặc Ares và nằm trong dải nó ghi. Nếu chỉ ở não tôi thì không.”
“Vậy cần cả dữ liệu y tế.”
“Và thời gian độc lập.”
Sofia nói: “Tôi có thời gian y tế ngoại tuyến.” Ba nguồn chưa đủ chứng minh Nara, nhưng đủ dựng một phép đối chiếu không do cùng một hệ quản trị làm sạch: Mộc Lan, tiền xung y tế và ký ức Khoa đã ghi ngay sau khi tỉnh.
Anh mở trang mới trong Sổ Đen. Tay vẫn run, nên Khoa nhập bằng bàn phím thay vì bút. Anh ghi ngày Ares, điều kiện quan sát và mức chắc chắn.
Phát hiện: tồn tại nhóm hồ sơ trước ca K-17, gồm ít nhất một bệnh nhân khác có mất đáp ứng kéo dài và dấu thần kinh tương tự.
Chưa biết: số lượng, danh tính, niên đại, nguyên nhân, tình trạng ý thức, quyền sở hữu dữ liệu.
Nguồn cần đối chiếu: bản sao tiền xung của Sofia; dữ liệu thô Mộc Lan; hồ sơ V-7; danh sách mã nhân sự không hồ sơ ở K-17.
Anh dừng trước dòng cuối.
Năm mã nhân sự không hồ sơ từng chỉ là một bất thường hành chính trong nhiệm vụ khai khoáng. Bây giờ một hệ thống y tế cũng chứa những con người bị làm mờ sau mã phân loại. Chưa có bằng chứng hai nhóm là một. Mối liên hệ chỉ đủ để tạo câu hỏi.
Khoa gõ:
Giả thuyết làm việc: một số cơ thể ở Ares vẫn sống trong khi phần tạo nên ý thức không còn biểu hiện hoàn toàn tại não.
Không gọi họ là trống rỗng. Không gọi ký ức Nara là bằng chứng.
Kiểm tra từng dấu vết.
Ngoài ô kính, ca đêm Ares bật lên từng dải đèn trắng dưới mái vòm. Thành phố đã tiếp tục sống khi Khoa ngủ. Trong khu chăm sóc phía bên kia hành lang, các máy theo dõi vẫn ghi nhịp cho những người chưa tỉnh.
Sổ Đen nằm trên đầu gối anh. Mộc Lan phát tín hiệu nền yếu qua cầu đọc. Bản sao của Sofia vẫn ở ngoài quyền JANUS.
Khoa chưa biết có bao nhiêu người đang ngủ.
Nhưng anh biết trường hợp của mình không còn là duy nhất.