Chương 1
Ngũ Vân Thạch Không Nói Dối
21px
Chiếc đò chạm bến Dạ khi trời còn bảng lảng hơi sương. Người lái đò già cột dây vào cọc, nhìn đám trẻ đang tụ trên bờ rồi buột miệng, như thể chỉ nói với mặt nước: "Lại một đám nữa. Không biết bao nhiêu đứa trụ được."
Ông lão không chờ ai hỏi, lập tức quay sang than giá đậu ở chợ huyện vừa tăng. Trần Mặc bước lên bờ, giữ câu nói dở ấy lại trong đầu rồi nhập vào dòng người đang men theo đường núi.
Càng lên cao, dòng người càng dồn sát, đổ về một hướng như nước gặp thung. Trần Mặc đi ở rìa, không để mình bị cuốn vào giữa. Khi cổng Minh Uyên Môn hiện ra sau tầng sương, hắn mới nhìn thấy nó lần đầu tiên không qua lời kể của ai: hai trụ đá xanh cao đến mức mây buổi sáng vương trên đỉnh như vải lụa mắc lại, phía sau là vách núi ẩm hơi nước với rêu mọc kín từng kẽ đá.
Trong lúc chờ cổng mở, hắn đếm được khoảng tám mươi người, có thể hơn một chút. Áo quần đủ màu nhưng phần lớn là vải nâu hoặc xám, không thêu. Một nhóm nhỏ đứng phía trái mặc áo có viền chỉ, đường may ngay ngắn và cổ áo thẳng hơn; họ tách khỏi hàng chờ chung như thể vị trí ấy đã được giữ sẵn.
Qua khe cổng, Trần Mặc thấy ba người lớn tuổi đang đón thí sinh. Một người cầm sách gỗ, hai người còn lại tay không nhưng trên áo có hoa văn khác với nhóm đứng bên ngoài. Hắn chưa biết sự khác biệt ấy bắt nguồn từ đâu, chỉ lặng lẽ ghi nhớ để tính sau.
Cổng mở. Đám thí sinh lần lượt đi qua hành lang ngắn rồi tản ra trên một khoảng sân rộng lát đá xám, không có mái che.
Bệ đồng đặt giữa sân. Trên bệ là một khối đá bằng nắm tay người lớn, hình ngũ giác, mỗi góc khắc một ký tự cổ mà Trần Mặc không đọc được - không phải chữ thường. Đá không sáng, không tối, chỉ nằm đó với vẻ của thứ đã nằm yên ở chỗ này từ rất lâu trước khi sân được xây.
Ngũ Vân Thạch. Hắn nghe tên này một lần từ người dạy chữ cho hắn năm chín tuổi, một lần khác từ đám trẻ ở chợ phiên hay bàn chuyện tu tiên như bàn chuyện hái rau.
Trưởng lão áo xanh đứng bên phải bệ, cuốn sách gỗ trên tay, mắt nhìn xuống, không nhìn đám người đang xếp hàng. Hắn bắt đầu gọi tên.
Không theo thứ tự tuổi tác, không theo thứ tự đến sớm hay muộn. Tên nào được gọi trước, người đó bước ra từ phía nào, có ai đón hay không - Trần Mặc theo dõi từng lượt. Đứa sáng một vân được gật đầu thường. Đứa sáng hai vân khiến tiếng xì xào nhỏ nổi lên rồi tắt ngay.
Nhưng khi trưởng lão gọi tên Phạm Hải Dực - tên này xuất hiện sớm hơn hẳn so với vị trí người đó đứng trong hàng - một cánh cổng bên hé ra. Người đón Phạm Hải Dực mặc áo có hoa văn khác với cả ba trưởng lão đứng chính giữa sân. Phạm Hải Dực bước qua, không nhìn lại.
Trần Mặc ghi nhận: đây không phải ngẫu nhiên.
Đến lượt hắn, sân đã vắng hơn một nửa.
Trần Mặc bước lên bệ, đặt tay phải lên Ngũ Vân Thạch. Đá lạnh hơn hắn nghĩ - không phải lạnh của đêm đông, mà lạnh của thứ không có nhiệt độ riêng, chỉ hút nhiệt từ người chạm vào.
Bốn vân sáng lên cùng lúc.
Vân Kim ánh vàng, vân Thủy trắng xám, vân Hỏa đỏ và vân Thổ nâu. Bốn màu loang ra từ tâm khối đá như mực thấm vào vải, mỗi màu chiếm một góc mà không lấn sang màu khác. Chỉ góc thứ năm, nơi thuộc về vân Mộc, vẫn không nhúc nhích.
Tiếng xì xào nổi lên theo hướng khác hẳn những lần trước; người ta không ngưỡng mộ, chỉ vội vàng phân loại hắn.
Trưởng lão áo xanh không nhìn lên. Bút ghi, miệng nói, giọng phẳng như đọc lại thứ đã viết sẵn: "Tạp tứ hệ. Khu ngoại môn."
Bốn vân vẫn sáng trên đá. Không vân nào chiếm chủ, không vân nào dẫn đạo - bốn màu giữ nguyên khoảng cách bằng nhau như thể chúng thỏa thuận từ trước. Trần Mặc nhìn khối đá thêm một giây. Rồi rút tay.
Khu chờ dành cho ngoại môn nằm phía đông sân, tách biệt bằng một hàng cọc gỗ không cao.
Trần Bá Hổ đến trước, đứng tựa cọc, nhìn về phía lối mà Phạm Hải Dực đã đi qua với ánh mắt không hẳn là ghen tức, không hẳn là bình thản. Hùng Lực đến sau, ngồi xuống ngay bậc đá, hỏi nhỏ: "Tạp tứ hệ thì học gì? Có học được không?"
Trần Mặc không trả lời. Hắn đứng quay mặt về phía sân, theo dõi những tên cuối cùng được gọi.
Tên nào được gọi sớm thì đi lối riêng. Tên nào được gọi giữa thì đi lối chung nhưng có người ra đón. Tên nào được gọi cuối thì tự tìm đường vào khu chờ nào đó mà không ai chỉ trước. Thứ tự gọi tên không phải ngẫu nhiên - nó là bản đồ xuất thân được đọc to trước mặt mọi người mà không ai nói thẳng ra. Trần Mặc đứng trong khu chờ ngoại môn và hiểu rằng hắn vừa được đọc to trên bản đồ đó, ở một vị trí cụ thể, trước mặt tám mươi người.
Hùng Lực hỏi lần nữa, Trần Bá Hổ bắt đầu trả lời thay, nhưng Trần Mặc không nghe.
Người dẫn đường - một đệ tử ngoại môn năm thứ ba, áo xám không hoa văn - đón nhóm họ ở cổng phụ khi trời đã ngả chiều.
Hành lang vào khu ngoại môn hẹp hơn lối chính. Đá ít chạm khắc hơn, bề mặt thô hơn, một số chỗ còn in dấu của công cụ đục chưa được mài lại. Đèn linh thạch treo thưa - cứ mười bước mới có một ngọn, ánh sáng vàng nhạt không đủ xua hết bóng tối ở rìa hành lang.
Trần Mặc bước đi, trong đầu hắn ghép lại một điều còn bỏ ngỏ từ lúc sáng: danh sách tên được gọi trong sân hôm nay có bao nhiêu người - nhưng số người đi lối riêng nhiều hơn số người hắn đếm được từ trước khi vào cổng. Có những tên không cần đứng trong sân chờ chung. Có những người không cần khảo hạch trước mặt mọi người.
Cổng ngoại môn hiện ra ở cuối hành lang - gỗ cũ, không khắc tên môn phái, chỉ có một tấm bảng gỗ nhỏ treo bên phải. Trần Mặc dừng lại.
Tấm bảng là danh sách tân đệ tử ngoại môn, chữ mực đen còn tươi. Tên hắn đứng ở khoảng giữa - không phải đầu, không phải cuối. Hắn đọc từ trên xuống, rồi nhìn lên phía trên dòng đầu tiên.
Phía trên danh sách có một khoảng trống. Không ghi gì. Không ký tự, không vết mực nhạt, không dấu hiệu của chữ đã bị xóa. Chỉ là gỗ trống - như thể người viết danh sách đã cố tình chừa ra, hoặc như thể trang đầu đã bị bỏ qua từ trước khi hắn đến.