Chương 22
Không Phải Một Cú Rẽ
21px
Lya không cho Khoa xem ký ức ngay. Cô đưa anh trở lại phòng truyền ý niệm, đặt ba cảm biến quanh đầu và yêu cầu anh nhận một chuỗi hình ảnh trung tính: mặt hồ, một hành lang đá, ba khối cầu trên bàn. Mỗi mẫu kéo dài chưa đến hai giây. Sau mẫu thứ tư, Khoa bắt đầu nhận ra vấn đề.
Ký ức không đến như video. Khi Lya truyền mặt hồ, anh không chỉ thấy ánh sáng trên nước. Anh biết vị trí của bờ sau lưng cô, cảm thấy gió trên một vùng da không trùng với mặt mình và nhận cả ý định đang hướng sự chú ý tới một gợn sóng cụ thể. Não anh phải ép nhiều lớp đồng thời thành thứ tự; trong quá trình đó, một phần bị bỏ, phần khác được điền từ kinh nghiệm của chính anh.
“Nếu cô truyền nhiệm vụ năm 2015 theo cách này,” Khoa nói, “tôi không phân biệt được dữ liệu cảm biến với hồi tưởng của cô.”
“Tôi không tham gia nhiệm vụ.”
“Ký ức của ai?”
“Người điều khiển Oru-Ka.”
“Người hôm qua?”
“Không.”
“Họ còn sống?”
Lya dừng một nhịp. “Có.”
Khoa ghi câu trả lời nhưng không hỏi tuổi. Người Nara đã nói tuổi thọ của họ thay đổi theo mức thích nghi; một phi công từ năm 2015 còn sống vào 2050 chưa vượt điều họ từng tuyên bố.
“Tôi muốn bản ghi thiết bị, không chỉ ký ức.”
“Anh sẽ có cả hai.”
“Và dữ liệu công khai của con người.”
“Phần chúng tôi lưu.”
“Không phải kết nối trực tiếp?”
“Không.”
Vậy mọi nguồn trong phòng đều đi qua Nara. Khoa có thể kiểm tra tính nhất quán nội bộ nhưng không xác minh được nguồn gốc độc lập, nên đặt giới hạn đó ở đầu bản ghi.
Lya tạo một bề mặt hiển thị vật lý thay vì truyền dữ liệu thẳng vào đầu anh. Một danh mục hiện ra bằng ký hiệu Nara, sau đó được ánh xạ sang chữ cái Latin và tiếng Anh từ kho ngôn ngữ Trái Đất của họ. Hai nhãn Khoa nhận ra ngay: GOFAST và GIMBAL.
Chúng từng nằm trong những tập video quân sự gây tranh luận suốt nhiều thập kỷ. Anh nhớ hình ảnh đơn sắc, dấu ngắm, các con số bị người xem trên mạng cắt khỏi ngữ cảnh rồi diễn giải theo mọi hướng. Có người xem đó là bằng chứng phương tiện phi nhân loại; có người chỉ ra thị sai, chế độ bám mục tiêu và thiếu khoảng cách độc lập. Khoa chưa từng coi các đoạn phim nén là đủ để kết luận.
“Hai bản ghi cùng một nhiệm vụ?” anh hỏi.
“Cùng một chuỗi thử nghiệm trong khoảng thời gian ngắn,” Lya nói.
“Mục tiêu?”
“Đo xem hệ cảm biến quân sự của các anh phát hiện được những lớp nào của trường chuyển động.”
Khoa quay sang cô rồi hỏi: “Các cô cố ý bay vào vùng huấn luyện?”
“Vùng có radar, cảm biến quang–hồng ngoại và nhiều người quan sát.”
“Nói cách khác, dùng phi công con người như thiết bị thử mà không có đồng thuận.”
Phổ quanh Lya co lại. “Đúng.” Không có lời biện hộ đi kèm, khiến sự thừa nhận nặng hơn.
“Ai phê duyệt?”
“Một hội đồng quan sát thời điểm đó.”
“Hội đồng hiện tại có cho rằng quyết định ấy đúng?”
“Không có một kết luận chung.”
Khoa đánh dấu câu hỏi đạo đức riêng khỏi dữ liệu kỹ thuật. Nếu trộn chúng quá sớm, sự tức giận có thể khiến anh bác bỏ bằng chứng đúng hoặc tin một bằng chứng yếu chỉ vì nó xác nhận điều anh nghi về Nara.
Khi anh mở GOFAST, đoạn phim công khai hiện trên vách: mặt biển xám, dấu bám mục tiêu và một vật nhỏ sáng trên nền lạnh. Khoa yêu cầu giữ nguyên khung, tốc độ và các lớp ký hiệu. Anh không dựa vào con số nhớ từ ba mươi năm tranh luận; anh dùng chính telemetry hiển thị trong bản lưu của Nara để dựng hình học quan sát.
Nếu chỉ có góc ngắm, độ cao của máy bay và ước lượng khoảng cách trên màn hình, một vật thể chậm ở thấp có thể trông rất nhanh vì nền biển chạy phía sau. Thị sai không phải cách né tránh dữ liệu. Nó là lời giải thích cần được kiểm tra đầu tiên.
Khoa dựng ba mô hình: mô hình một cho vật thể ở gần mặt biển, chuyển động cùng hướng gió ở tốc độ thấp; mô hình hai cho vật thể xa hơn, gần độ cao máy bay; mô hình ba dùng quỹ đạo mà Nara tuyên bố Oru-Ka đã bay.
Cả ba tạo ảnh hai chiều gần giống nhau trong phần video công khai.
“Từ đoạn này,” anh nói, “không thể chọn mô hình ba.”
“Đúng.”
“Vậy video không chứng minh tàu của các cô.”
“Không.”
Lya không hề cố cứu một lập luận yếu. Khoa chuyển sang bản ghi Nara, trong đó dữ liệu đầu tiên là vị trí của Oru-Ka theo hệ quy chiếu họ dùng. Anh yêu cầu đổi sang tọa độ Trái Đất và nhận kèm sai số. Dữ liệu thứ hai là cấu hình trường bao quanh tàu; dữ liệu thứ ba là các xung radar từ nhiều nguồn bên ngoài chiếu vào trường rồi phản xạ.
Khoa chưa thể xác minh tọa độ Nara, nhưng anh có thể đối chiếu thời gian xung radar với góc ngắm trong video. Các đỉnh trùng nhau trong giới hạn đồng hồ hiển thị, không chỉ từ một radar: ít nhất ba nguồn có vị trí tách biệt đã quét qua Oru-Ka trong cùng cửa sổ.
Với nhiều trạm, khoảng cách không còn hoàn toàn tự do. Giao điểm của các mặt đo đặt vật thể xa hơn giả thuyết thấp và chậm. Vận tốc thật lớn hơn nhiều tốc độ biểu kiến suy ra từ mô hình thị sai đơn giản.
Phần đó không có trong tập công khai trên vách. “Dữ liệu radar đa trạm của con người đâu?” Khoa hỏi.
Lya mở một lớp danh mục khác. Các gói tín hiệu nhận dạng, đồng bộ thời gian và tiêu đề kỹ thuật xuất hiện. Nội dung chính bị cắt sau một chuỗi xác nhận toàn vẹn.
“Các cô không lấy được?”
“Chúng tôi từng thấy nó được ghi.”
“Từng thấy trên hệ thống quân sự?”
“Thấy phản hồi của hệ thống với từng xung và đường truyền dữ liệu giữa các nút.”
“Nhưng không có bản sao đầy đủ.”
“Không.”
Nara biết cảm biến đã ghi gì vì chính trường của họ phản ứng với xung đo, nhưng biết một tín hiệu tồn tại không đồng nghĩa có toàn bộ tệp con người lưu. Khoa giữ hai loại bằng chứng tách biệt rồi mở GIMBAL.
Vật thể tối nằm giữa dấu ngắm, một quầng sáng bao quanh. Trong đoạn nổi tiếng nhất, hình ảnh dường như xoay trong lúc tiếng phi công phản ứng. Tên gọi của video đã khiến hàng triệu người xem mặc nhiên coi chuyển động ấy là một cú xoay của vật thể.
Khoa cho chạy từng khung.
Quầng hồng ngoại thay đổi cùng vật thể. Một phần có thể đến từ cơ cấu gimbal của cảm biến, cách hệ quang học bù góc và xử lý ảnh. Nếu toàn bộ cụm quang quay, hình trên màn hình có thể xoay mà vật thật không đổi tư thế.
“Thân tàu có xoay không?” anh hỏi.
“Không.”
“Trường?”
“Có đổi.”
Lya đặt bản ghi cấu hình Oru-Ka cạnh video. Ở thời điểm hình ảnh bắt đầu xoay, biên trường nghiêng tương quan với một vectơ radar đang tới. Thân đĩa giữ mặt phẳng gần như cũ; vùng tương tác quanh nó tái định hướng để phân bố tín hiệu phản xạ.
Hệ cảm biến hồng ngoại không nhìn thấy trường trực tiếp. Nó nhìn hậu quả: bức xạ nền bị biến dạng ở biên, thuật toán bám mục tiêu cố ổn định một hình không tuân theo mô hình quang học quen thuộc, rồi cơ cấu trong cảm biến quay qua một ngưỡng.
Kết quả trên màn hình trông như vật thể xoay, nhưng đó không phải một cú rẽ.
Oru-Ka đổi vectơ chuyển động mà không cần xoay thân, giống điều Khoa đã thấy trong khoang đá. Phần xoay nổi bật trong video là hỗn hợp giữa tái cấu hình trường và phản ứng của hệ quang học.
“Có thể dựng lại kết quả này bằng mô hình cảm biến thông thường không?” anh hỏi.
“Một phần.”
“Bao nhiêu?”
Lya không đưa tỷ lệ. Khoa tự tắt lớp dữ liệu Nara, chỉ giữ video công khai. Không có radar đa trạm và cấu hình trường, lời giải thích về cơ cấu quang học vẫn đủ hợp lý; đoạn phim một mình không buộc người phân tích phải chọn phương tiện Nara. Khi anh bật lại các lớp bị thiếu, mô hình thay đổi.
“Dữ liệu công khai không giả,” Khoa nói. “Nó chỉ không đủ.”
“Đúng.”
“Ai làm nó không đủ?”
Lya không trả lời bằng lời mà mở một chuỗi thời gian sau nhiệm vụ. Các gói radar và telemetry được sao sang nhiều điểm lưu. Sau đó, một nhánh nhận bản đầy đủ; nhánh khác nhận video, một phần thông số bay và các bản tóm tắt đã loại trường dữ liệu không khớp định dạng thông thường. Nhiều năm sau, tài liệu công khai tiếp tục di chuyển qua cơ quan, nhà thầu và kho lưu trữ. Tên thư mục thay đổi, chuỗi nguồn bị chia nhỏ.
Một nhãn tiếng Anh hiện trong lớp ánh xạ của Nara: Record Group 615. Khoa nhận ra kiểu tên của hệ thống lưu trữ công vụ Hoa Kỳ, không phải tên một chương trình bí mật. Danh mục chứa các hồ sơ UAP đã được công bố, biên mục hoặc chuyển giao. Nó là phần người dân có thể yêu cầu và các nhà nghiên cứu có thể trích dẫn.
“Nhánh đầy đủ đi đâu?”
“Qua những địa chỉ không xuất hiện trong hồ sơ công khai.”
“Cơ quan nào?”
“Chúng tôi không biết tên ổn định của họ.”
“Nhưng biết có người nhận.”
“Biết các khóa truy cập lặp lại qua nhiều năm. Biết một số kho vật lý và đường truyền. Không biết cấu trúc tổ chức của con người đứng sau chúng.”
Khoa phóng lớn chuỗi xác nhận. Những mã định danh thay đổi giữa quân đội, cơ quan tình báo và các nhà thầu; không có một tên duy nhất nối tất cả. Nếu Nara dựng câu chuyện, họ đã tránh sai lầm dễ nhất là bịa ra một tổ chức toàn năng với biển tên rõ ràng.
“Những người công bố video có biết phần bị tách không?”
“Một số người ở gần nhiệm vụ biết có thêm dữ liệu. Chúng tôi không biết họ hiểu việc dữ liệu đi đâu tới mức nào.”
“Còn cơ quan phân tích công khai sau này?”
“Phần lớn chỉ nhận tập đã thiếu.”
Khoa tựa lưng vào ghế. Một cơ quan có thể đưa ra kết luận trung thực từ dữ liệu không đầy đủ. Sự trung thực của người phân tích không chứng minh chuỗi cung cấp dữ liệu trung thực. Ngược lại, việc một phần bị giữ lại cũng không biến mọi trường hợp chưa giải thích thành công nghệ Nara.
Anh viết ba dòng:
Phần lớn hiện tượng UAP vẫn có thể là vật thể thông thường, khí quyển hoặc lỗi cảm biến.
Video GOFAST và GIMBAL công khai không đủ tự thân để chứng minh Oru-Ka.
Nếu telemetry đa trạm và dữ liệu trường từng tồn tại như bản ghi Nara cho thấy, việc loại chúng đã thay đổi căn bản kết luận có thể rút ra.
“Các cô đã làm gì sau khi biết dữ liệu bị tách?” Khoa hỏi.
“Giảm tiếp xúc.”
“Không cảnh báo công chúng?”
“Cảnh báo bằng cách nào mà không xác nhận sự hiện diện của chúng tôi?”
“Các cô đã cố ý tạo lần chạm trán.”
“Và hội đồng cho rằng đó là một sai lầm.”
“Sau khi đã có kết quả.”
Lya nhận câu ấy mà không phản bác. Khoa yêu cầu xem ký ức người điều khiển.
“Anh đã có dữ liệu,” cô nói.
“Dữ liệu của các cô. Tôi muốn biết người ở trong tàu quan sát gì khi quyết định đưa nó vào vùng cảm biến.”
“Ký ức có thể làm anh nhầm trải nghiệm của họ với trải nghiệm của mình.”
“Cô đã kiểm tra khả năng nhận của tôi.”
“Vì vậy tôi biết giới hạn.”
“Cho tôi một đoạn. Có mốc bắt đầu và kết thúc.”
Lya im lặng một lúc rồi đặt tay lên bề mặt giữa hai người. Phổ quanh cô mở rộng; dải liên kết lần này không mảnh mà tạo thành một vùng Khoa cảm thấy như áp suất ở phía sau mắt.
“Đừng cố giữ toàn bộ,” cô truyền. “Chọn ba điểm.”
“Thời gian. Vị trí. Quyết định đổi vectơ.”
Liên kết mở, và màu lam tràn vào trước. Không phải màu trên màn hình, mà là khí quyển Trái Đất nhìn từ một vị trí không có cửa sổ, được trường cảm nhận như một lớp mật độ biến đổi, bên dưới là biển. Nhiều xung radar quét qua Oru-Ka, mỗi xung để lại một biến dạng ngắn trên biên trường. Xa hơn, một chiếc F/A-18 tiến vào vùng quan sát; Khoa không nhìn nó bằng mắt nhưng biết hình dạng từ phản hồi radar và phổ nhiệt.
Một cấu trúc thời gian đi kèm. Năm 2015 theo quy đổi của Lya. Các tọa độ hiện lên rồi tan trước khi Khoa kịp chuyển thành số.
Người điều khiển không cảm thấy phấn khích. Chú ý của họ trải trên toàn trường, lạnh và rộng, theo dõi từng cảm biến con người như Khoa theo dõi các kênh trạng thái của M-17. Một ý định từ người khác trên tàu yêu cầu tăng độ lộ. Người điều khiển phản đối trong một cấu trúc không lời: quá gần, quá nhiều hệ thống cùng bám, vượt giới hạn nhiệm vụ.
Yêu cầu được lặp lại và Oru-Ka đổi vectơ. Không có cảm giác rẽ, không trái, phải, trước hay sau. Một quan hệ chuyển động cũ khép lại; quan hệ mới mở ở góc gần vuông. Biển và máy bay thay vị trí quanh vùng trường, nhưng bên trong không có gia tốc.
Khoa cảm thấy tín hiệu của hệ quang học quân sự cố giữ khóa. Một phần biên trường xoay để phân bố năng lượng tới. Người điều khiển nhận ra hệ thống con người đã ghi được nhiều hơn dự kiến.
Rồi một thứ khác xuất hiện, không phải radar. Một kênh thụ động trên mặt đất mở đúng sau lần đổi vectơ, nhận dữ liệu từ các trạm và sao chúng sang một tuyến riêng. Người điều khiển đánh dấu tuyến ấy vì nó từng xuất hiện trong các lần quan sát trước.
Khi Lya đóng liên kết, Khoa cúi người, hai tay chống đầu gối. Phòng không chuyển động, nhưng hệ tiền đình của anh vẫn chờ một cú rẽ chưa từng xảy ra. Mất gần một phút nhịp thở mới đều.
Anh kiểm tra ba điểm đã chọn.
Thời gian: 2015.
Vị trí: trên biển, trong vùng hoạt động của máy bay quân sự Hoa Kỳ; tọa độ cụ thể đã mất khi chuyển thành ký ức của anh.
Quyết định đổi vectơ: đến sau một yêu cầu tăng độ lộ và sự phản đối của người điều khiển.
“Ai ra yêu cầu?” anh hỏi.
“Một trưởng nhiệm vụ Nara.”
“Họ có bị xem xét sau đó?”
“Có.”
“Kết quả?”
“Không còn được phép thiết kế tiếp xúc với nền văn minh trẻ.”
Khoa ghi lại rằng đó là trách nhiệm nội bộ, không phải sự đồng thuận của những người bị dùng làm đối tượng thử. Anh quay lại tuyến dữ liệu riêng trong ký ức. “Kênh đó đã có trước năm 2015?”
“Có.”
“Bao lâu?”
“Chúng tôi nhận ra hình thức hiện tại của nó qua nhiều thập kỷ. Hình thức cũ hơn không cùng công nghệ.”
“Cùng tổ chức?”
“Chúng tôi không biết.”
“Họ giữ vật liệu?”
Lya nhìn anh, và trong khoảng ngừng ấy Khoa biết câu hỏi đã chạm một ranh giới khác.
“Có những kho chúng tôi không thể quan sát bên trong,” cô nói. “Một số tín hiệu đi tới đó.”
“Tín hiệu từ GOFAST và GIMBAL?”
“Bản sao đầy đủ.”
“Và sau đó tập công khai bị tách.”
“Đúng.”
Khoa nghĩ tới Noctis-6: drone trở về sau ba năm trong Màn Chớp với hình học Nara nằm trong bộ nhớ. Chỉ vài giây sau khi hệ thống nhận diện nội dung bất thường, lệnh bảo toàn và niêm phong đã đến qua một tầng quyền lực mà đội hiện trường không nhìn thấy. Kênh V-7 gom log, tách thiết bị khỏi quy trình kỹ thuật thông thường và thu hẹp người được truy cập.
Hai sự kiện cách nhau ba mươi lăm năm, ở hai hành tinh và dưới những hệ thống quản trị khác nhau. Khoa không có bằng chứng chúng thuộc cùng một tổ chức. JANUS, AstraX, một cơ quan Trái Đất hoặc một nhóm khác có thể tự xây quy trình niêm phong sau khi biết lịch sử UAP. Những phản ứng giống nhau có thể phát sinh từ cùng một động cơ mà không cần cùng người điều khiển.
Nhưng mô hình lặp lại: phát hiện bất thường, sao dữ liệu đầy đủ sang một kênh kín, rồi để phần còn lại của hệ thống làm việc với tập đã bị cắt.
“Noctis-6 không phải lần đầu con người làm việc đó,” Khoa nói.
“Tôi không biết ai giữ Noctis-6.”
“Tôi cũng không.”
“Vậy đừng nối chúng thành một kết luận.”
Khoa nhìn cô rồi đáp: “Tôi đang nối chúng thành một câu hỏi.”
Anh đặt Record Group 615, telemetry năm 2015 và chuỗi niêm phong Noctis-6 cạnh nhau. Không mũi tên nào được vẽ giữa ba mục, chỉ có cùng một ký hiệu: dữ liệu mất trước khi tới người có nhiệm vụ phân tích.
Buổi làm việc kết thúc khi Cảm Ứng của Khoa bắt đầu nhiễu. Quầng quanh Lya tách thành hai lớp lệch nhau; một lớp bám theo cô, lớp kia chậm gần nửa nhịp. Anh chớp mắt, kiểm tra ánh sáng phòng rồi thu chú ý lại. Hiện tượng biến mất.
“Phản ứng sau ký ức?” anh hỏi.
“Có thể.”
“Bao lâu thì hết?”
“Nếu anh nghỉ, một chu kỳ.”
“Nếu không?”
“Anh sẽ không phân biệt tốt tín hiệu của mình với phần vừa nhận.”
Khoa khóa dữ liệu và đứng lên. Cơ thể không mệt, nhưng bước đầu tiên ngắn hơn dự định. Anh điều chỉnh ở bước thứ hai.
Lya đưa anh về khu sinh thái bằng con đường dưới hồ. Khi họ đi qua phòng vận động, Khoa thấy trên vách lịch luyện mới đã bị giảm một phần ba mà anh không yêu cầu.
“Ai đổi lịch?”
“Tôi.”
“Dựa trên chỉ số nào?”
“Khả năng ổn định liên kết.”
“Tôi muốn xem dữ liệu.”
“Ngày mai.”
Lại là từ đó.
Khoa nhìn các khoảng nghỉ được chèn vào ba tuần tiếp theo. Chúng không giống lịch phục hồi sau một buổi truyền ký ức. Chúng giống một hệ thống đang giảm tải trước khi chạm giới hạn chưa công bố.
“Lya.”
Cô dừng ở cửa.
“Các cô đang đo một đồng hồ khác mà tôi không được thấy?”
Phổ quanh cô co lại, rồi khép kín đến mức Khoa không nhận được gì ngoài câu trả lời bằng âm thanh.
“Anh cần nghỉ.”
Cô rời đi trước khi anh hỏi lần nữa.
Trên vách, lịch ba tuần mới bắt đầu đếm xuống.