Chương 23
Tháng Thứ Sáu
21px
Ba tuần trên lịch không đếm tới một sự kiện. Chúng hết, rồi được thay bằng ba tuần khác.
Lya khôi phục một phần lịch luyện sau khi Khoa yêu cầu xem dữ liệu ổn định liên kết. Cô cho anh các chỉ số về độ trễ Cảm Ứng, sai số vận động, thời gian phục hồi và mức nhiễu sau truyền ký ức. Không chỉ số nào giải thích vì sao tổng tải phải giảm một phần ba. Khi Khoa hỏi biến còn thiếu, cô gọi nó là khả năng duy trì đồng bộ.
“Đồng bộ giữa những gì?” anh hỏi.
“Giữa cấu trúc ý thức và cơ thể anh đang dùng.”
“Cơ thể tôi.”
Lya không sửa lại cách nói. “Giữa anh và cơ thể.”
Đó không phải câu trả lời Khoa có thể đo. Anh lưu nguyên văn bên cạnh lịch mới.
Thời gian tiếp tục trôi. Sol thứ một trăm mười bảy, Khoa giữ Cảm Ứng ở nền trong một giờ vận động mà độ chính xác tay không giảm. Sol thứ một trăm ba mươi hai, anh phân biệt được ba mức ám chất sau hai lớp đá, nhưng vẫn sai nếu Lya truyền một cấu trúc nghĩa cùng lúc. Sol thứ một trăm bốn mươi sáu, dải Dẫn Nhập tự hình thành trong gần hai nhịp tim khi anh ở một mình. Không người nhận, kết quả chỉ dựa trên Cảm Ứng của anh và một sai lệch nhiệt nhỏ, nên Khoa không nâng phân loại. Đến sol thứ một trăm sáu mươi, chữ viết ổn định nhưng không trở lại chữ cũ.
Khoa đặt bản viết mới cạnh mẫu anh đã tạo trong tuần đầu. Khoảng cách chữ bớt đều, nét K có cú kéo ngắn và lực bút tăng ở cuối tên. Nếu không có ký ức về chữ viết trước tai nạn, anh có thể chấp nhận đây là chữ của mình.
Nhưng nó là sản phẩm của sáu tháng luyện có chủ ý, và những kỹ năng khác cũng vậy. Tay anh bắt dụng cụ rơi nhanh hơn trước. Lực siết nằm trong sai số ba phần trăm. Dáng đi vẫn cân bằng đến mức bất thường, không tái xuất góc xoay bàn chân phải khi mệt. Cơ thể học hiệu quả, nhưng không tự tìm về các sai lệch từng được tích lũy qua hàng chục năm.
Mỗi mười chu kỳ, anh kiểm tra lại bản đồ bề mặt. Vết bỏng cạnh ngón cái không trở lại. Sẹo đầu gối trái không xuất hiện dưới bất kỳ phổ chiếu mô nào. Vùng chai tay hình thành mới ở vị trí phù hợp với dụng cụ Nara, không phải cờ lê Ares. Nốt ruồi dưới xương sườn phải giữ nguyên vị trí lệch gần một centimet so với trí nhớ.
Giả thuyết điều trị tái tạo sâu vẫn giải thích được từng điểm. Một quá trình đủ mạnh có thể xóa sẹo, sửa khớp và buộc hệ thần kinh học lại. Nhưng sau sáu tháng, Khoa không còn coi đó là giả thuyết mặc định. Nó phải cạnh tranh với hai khả năng khác: Nara đã thay đổi cơ thể anh vượt quá mức cần cứu sống, hoặc thứ họ gọi là cơ thể không có cùng nghĩa với anh.
Anh chưa có phép thử phân biệt, còn Lya cũng không cho anh thêm dữ liệu.
Khoa chuyển sang đo chính sự từ chối. Những câu hỏi về vận động và Cảm Ứng được trả lời trong cùng chu kỳ. Câu hỏi về mô thần kinh mất lâu hơn. Câu hỏi về sẹo, chip và “đồng bộ” thường khiến phổ quanh Lya khép lại trước khi cô nói. Câu hỏi về thời điểm trở về Ares không còn nhận được mốc dự kiến.
“Ba tháng trước cô nói khi tình trạng tôi ổn định,” anh nói vào sol thứ một trăm sáu mươi tám. “Các chỉ số cô cho thấy tôi ổn định hơn.”
“Một số chỉ số.”
“Chỉ số nào xấu đi?”
“Khả năng hồi quy.”
Từ tiếng Việt xuất hiện quá nhanh, như thể Lya đã chuẩn bị câu trả lời từ trước.
“Hồi quy về đâu?”
“Trạng thái trước chuyển tiếp.”
“Cơ chế chuyển tiếp là gì?”
“Tôi chưa được phép giải thích đầy đủ.”
“Ai không cho phép?”
“Hội đồng.”
“Và Taren?”
Lya nhìn anh rồi nói: “Taren không phải hội đồng.”
“Nhưng ông ấy quyết định việc trả Noctis-6. Ông ấy cũng phản đối giữ tôi ở đây?”
“Ông ấy phản đối cách chúng tôi đánh giá rủi ro.”
“Rủi ro cho tôi hay cho Nara?”
“Cả hai.”
Khoa không nhận được gì thêm. Đến cuối tháng thứ năm, hiện tượng mới xuất hiện.
Anh đang nằm yên trong phòng ngủ, dải đo đặt cạnh bệ như mọi chu kỳ. Nhịp tim ở mức năm mươi tám, đều. Khoa thực hiện bài chú ý ngoại vi trước khi ngủ: nhận tiếng nước, nhiệt trên da và phổ ám chất nền mà không bám vào nguồn nào.
Một nhịp đập đi qua vùng ngực, sớm hơn nhịp tim của anh gần nửa giây.
Khi Khoa mở mắt, dải đo hiển thị nhịp tiếp theo ở đúng vị trí dự kiến: không loạn nhịp, không ngoại tâm thu. Anh đặt hai ngón lên động mạch cổ; nhịp trong mạch trùng với dải đo, còn nhịp kia xuất hiện lần nữa sau bảy giây.
Nó yếu hơn cảm giác co bóp thật, không làm mạch cổ đổi và không tạo chuyển động trên lồng ngực. Khoa cảm thấy nó ở sâu phía sau xương ức, nhưng vị trí không cố định; lần thứ ba, cảm giác lệch sang trái rồi như kéo dài ra ngoài cơ thể.
Anh ngồi dậy, đánh dấu thời gian bằng tay, và hiện tượng dừng.
Khoa kiểm tra điện tim, áp suất, oxy máu và điện thế cơ. Không kênh nào ghi nhịp thứ hai. Anh nằm lại đúng tư thế, khôi phục nhịp thở và mở Cảm Ứng ở mức trước đó.
Mười một phút không có gì. Sau đó hai nhịp tới liên tiếp, cách nhau hơn một giây, trong khi nhịp tim thật của anh vẫn ở năm mươi chín.
Khoa đóng Cảm Ứng và hiện tượng biến mất. Anh lặp ba lượt trong đêm, thay đổi tư thế và mức chú ý. Nhịp lệch chỉ xuất hiện khi cơ thể yên, hô hấp thấp và Cảm Ứng mở đủ rộng. Nó không đồng bộ với chu kỳ mái trời, dòng nước hay thiết bị trong phòng mà anh đo được.
Giả thuyết đầu tiên là tín hiệu ám chất nền bị não diễn giải bằng cảm giác nội tạng quen thuộc. Giả thuyết thứ hai là ký ức cơ thể từ lần truyền năm 2015 còn sót lại. Giả thuyết thứ ba là một rối loạn nhận biết nhịp tim do luyện chú ý quá mức.
Không giả thuyết nào giải thích tốt cảm giác nhịp thứ hai nằm ngoài ranh giới da, và Khoa chưa báo Lya ngay.
Trong sáu chu kỳ tiếp theo, anh thiết kế phép đo mù. Hệ thống ngẫu nhiên bật hoặc tắt ba mẫu ám chất sau vách. Khoa nằm yên, không biết trạng thái mẫu, ghi thời điểm cảm nhận nhịp lệch. Hiện tượng không tương quan với mẫu cao, thấp hay rỗng. Nó xuất hiện nhiều hơn gần cuối khoảng nghỉ, khi nhịp tim thật thấp.
Ở lần thứ chín, khoảng cách giữa hai nhịp lệch tạo thành một chu kỳ gần đều: một phẩy ba giây. Khoa biết một nhịp sinh học nào đó ở khoảng ấy, nhưng cũng biết việc nhận ra mẫu có thể khiến não tự sản xuất mẫu. Anh yêu cầu hệ thống phát rung ngẫu nhiên rất nhẹ vào bệ nằm để kiểm tra ám thị cơ học. Nhịp lệch không trùng rung và vẫn xuất hiện khi anh đổi phòng. Anh ngủ ở bờ hồ một chu kỳ, không dải đo, chỉ dùng tay bắt mạch. Hai nhịp đến trong lúc tim thật đập chậm và đều.
Đến sol thứ một trăm bảy mươi sáu, Khoa nói với Lya.
Cô đứng yên trước khi anh mô tả hết. Phổ quanh cô không co lại mà biến mất.
Khoa vẫn nhìn thấy cơ thể Lya, màu da, tóc và nếp vật liệu ở vai. Nhưng Cảm Ứng không bám được bất kỳ đường viền nào quanh cô, giống phản ứng của anh trước người điều khiển Oru-Ka ở mức mạnh hơn.
“Cô biết hiện tượng này.”
“Tôi biết một số khả năng.”
“Liệt kê.”
“Nhiễu nội cảm. Dư âm liên kết. Mất đồng bộ tạm thời.”
“Khả năng thứ tư?”
Lya im lặng trước lời kết luận của Khoa: “Cô đã bỏ một khả năng.”
“Anh cần ngừng toàn bộ Dẫn Nhập.”
“Dựa trên nhịp thứ hai?”
“Dựa trên tổng dữ liệu.”
“Cho tôi tổng dữ liệu.”
“Không.”
Đây là lần đầu cô từ chối bằng một từ không kèm lý do. Khoa đứng dậy và nói: “Vậy tôi sẽ tiếp tục đo bằng dữ liệu của mình.”
“Anh có thể làm liên kết khó hồi quy hơn.”
“Liên kết với cái gì?”
Lya phát âm tên anh bằng giọng nói, không truyền ý niệm. “Dừng lại.”
Việc cô đóng kênh nghĩa cho Khoa biết cuộc trao đổi đã kết thúc trước khi lời nói vang ra. Chiều cùng chu kỳ, Taren tới.
Ông không vào phòng Khoa. Hệ thống dẫn ông và Lya tới một khoang bên kia dải cây thân bạc, nơi vách dày hơn và trường nền che gần hết Cảm Ứng. Khoa chỉ biết Taren có mặt vì nhìn thấy ông đi qua cầu đá. Không lời chào, không một ý niệm hướng về phía anh.
Khoa tiếp tục bài vận động đã được phép. Anh đặt sáu khối ren trên bàn ngoài trời, lắp chúng theo thứ tự mô-men và giữ mắt ở dụng cụ. Sau mười phút, Lya cùng Taren rời khoang họp bằng một lối khác.
Điều đó khiến anh chú ý: lối vào ở phía đông, nhưng hai người xuất hiện sau hàng cây phía bắc, nơi bản đồ sinh thái Khoa ghi là nền đá kín.
Anh không đi theo, mà hoàn thành bài, lưu sai số lực rồi trở về phòng như thường lệ. Đến chu kỳ tối, Khoa mở bản đồ mình đã xây trong sáu tháng. Anh chồng các tuyến nước, chênh nhiệt nền và những vùng Cảm Ứng bị bẻ hướng. Một hành lang hẹp hiện ra dưới khu rễ phía bắc, nối khoang họp với một vùng không có trong những lối Lya từng cho anh đi.
Khoa đặt thiết bị ghi thụ động ở phòng mình để nó tiếp tục bài đo nhịp lệch theo lịch, sau đó tới dải cây thân bạc.
Không khí tối và ẩm. Mái trời giả đã hạ quang phổ xuống mức ban đêm. Dưới lớp rễ, nước vẫn chảy qua những đường không do hệ thống điều khiển từng lỗ. Khoa nhớ bài học tháng thứ ba: Nara điều khiển chênh lệch ở tầng dưới; vật chất sống chọn đường còn lại.
Sau mười bảy phút tìm chênh lệch, một luồng khí lạnh rất nhẹ chạm cổ tay anh. Nó đi ra từ khe giữa hai mảng đá tưởng như liền nhau. Cảm Ứng cho thấy một lớp trường mỏng chạy dọc khe rồi khuất xuống dưới đất.
Thay vì mở lối, Khoa đặt ba dấu vật lý khó thấy, đo nhiệt và quay về. Một lần quan sát chưa đủ để xâm nhập vùng cấm, nhất là khi anh chưa biết cơ chế khóa hoặc cảnh báo.
Sáng hôm sau, Lya thông báo toàn bộ bài Dẫn Nhập bị đình chỉ.
“Trong bao lâu?”
“Đến khi hội đồng quyết định.”
“Taren đề nghị vậy?”
“Không.”
“Ông ấy đề nghị gì?”
“Hồi quy sớm.”
Khoa giữ giọng đều khi hỏi: “Về Ares?”
“Về trạng thái có thể đưa anh trở lại.”
“Khác nhau thế nào?”
Lya lại khép phổ trước khi trả lời: “Tôi chưa thể nói.”
“Vì cô không được phép hay vì nếu tôi biết, tôi sẽ không đồng ý?”
Một chuyển động rất nhỏ đi qua mặt cô. Không đủ để Khoa gọi là sợ hãi, nhưng khác mọi lần cô từ chối trước đó.
“Cả hai,” Lya nói.
Trên bảng lịch Khoa đang nhìn, các khoảng luyện đã biến mất. Thay vào đó là hai lần đánh giá mỗi chu kỳ và một mốc không có nhãn sau chín ngày.
“Nếu hồi quy sớm an toàn hơn, tại sao hội đồng chưa đồng ý?”
“Vì trở lại cũng có rủi ro.”
“Cho ai?”
“Anh.”
“Còn ở lại?”
Lya không trả lời, và sự im lặng cung cấp phần đối xứng: ở lại cũng có rủi ro cho anh, rủi ro đang tăng theo một biến họ không cho anh thấy. Khoa chuyển sang câu hỏi khác: “Nhịp tôi cảm thấy có phải một phần của liên kết hồi quy không?”
“Có thể.”
“Nguồn ở đâu?”
“Tôi không được nói.”
“Nó có phải nhịp tim không?”
Lya nhìn thẳng vào anh. “Đừng cố bám theo nó.”
Đó không phải câu trả lời, cũng không phải phủ nhận.
Sau khi cô rời đi, Khoa mở dữ liệu đêm trước. Thiết bị trong phòng đã ghi một buổi thử hoàn chỉnh dù anh không nằm trên bệ. Không nhịp lệch nào được hệ thống đánh dấu. Hiện tượng cần sự hiện diện và Cảm Ứng của anh; nó không phải rung động môi trường đơn giản.
Anh thêm giả thuyết thứ tư nhưng không đặt tên nguồn: một tín hiệu sinh học truyền qua liên kết mà thiết bị vật lý tại đây không nhận được. Cuối sol thứ một trăm bảy mươi chín, nhịp lệch xuất hiện khi Khoa đang đi bộ.
Nó yếu đến mức gần chìm trong nhịp chân. Một phẩy bốn giây sau, nhịp thứ hai tới, rồi nhịp thứ ba, trong khi nhịp tim thật của anh là bảy mươi sáu, nhanh hơn hẳn.
Khoa dừng giữa cầu đá, đặt tay lên ngực. Hai chuỗi tiếp tục không đồng bộ trong bốn giây. Một nằm dưới lòng bàn tay. Chuỗi kia kéo về phía vùng rễ phía bắc, không theo hướng vật lý chính xác mà theo cách Cảm Ứng từng chỉ dải liên kết tới Lya.
Anh không bám theo, chỉ ghi hướng trước khi nó tắt. Hướng ấy trùng với hành lang ẩn.
Tối hôm đó, Taren và Lya tranh luận lần nữa.
Khoa ở đủ gần để nghe âm thanh qua khe đá nhưng không hiểu ngôn ngữ Nara. Hai giọng nói ngắt nhau, nhanh hơn hội thoại thường ngày của Lya. Liên kết của họ được giữ kín, song mỗi khi cường độ tăng, vài mảnh ý nghĩa thoát ra ở rìa Cảm Ứng.
Giới hạn tiếp nhận.
Cấu trúc gốc suy yếu.
Không thể để anh tự thấy trước khi chuẩn bị.
Và từ Taren, sắc như một đường cắt: các người đã gọi việc trì hoãn là bảo vệ quá lâu.
Khoa lùi khỏi khe trước khi hai người kết thúc. Những mảnh nhận được có thể sai chủ thể, sai thời điểm hoặc bị não anh ghép theo nghi ngờ có sẵn, nhưng chúng đủ để xác nhận cuộc tranh luận không chỉ về lịch luyện.
Chín ngày trên bảng không phải thời gian hồi phục, mà là thời gian họ còn để quyết định điều gì sẽ xảy ra với anh.
Khoa trở về dải rễ phía bắc lúc chu kỳ tối sâu nhất. Anh mang theo ba khối nhỏ lấy từ bài vận động, đặt chúng ở các vị trí khác nhau để kiểm tra biên trường. Khối thứ nhất không phản ứng. Khối thứ hai xuất hiện quầng xanh mỏng. Khối thứ ba làm khe đá đổi nhiệt.
Một lối vào mở ra không tiếng động.
Phía sau không phải hành lang tự nhiên. Vách sáng trắng, không có cây, nước hay bề mặt mềm của khu sinh thái. Không khí mang mùi kim loại rất nhẹ và hợp chất hữu cơ nóng. Xa bên trong, những cấu trúc trong suốt đứng thành hàng dưới ánh sáng lạnh.
Khoa chỉ nhìn được hình dáng chung trước khi lối bắt đầu khép.
Một khung xương.
Những bó mô đỏ sẫm đang tự nối quanh nó.
Và bên cạnh, một hình người hoàn chỉnh nằm bất động sau lớp vật liệu trong suốt.
Khoa rút tay khỏi khối điều khiển. Khe đá khép lại, trả vùng rễ về trạng thái không có gì ngoài nước chảy.
Anh đứng trong bóng tối, đếm nhịp tim của mình.
Không có nhịp thứ hai.
Mốc không nhãn trên lịch còn tám ngày.
Khoa quyết định sẽ không đợi đến ngày thứ tám.