Chương 24
Nơi Cơ Thể Được Tạo Ra
21px
Khoa quay lại vùng rễ phía bắc sau hai giờ.
Anh không thử mở lối ngay. Lần đầu chỉ chứng minh ba khối vận động có thể làm lớp ngụy trang phản ứng; chưa chứng minh tổ hợp ấy là khóa, càng không chứng minh hệ thống sẽ phản ứng giống nhau ở lần thứ hai. Khoa đặt từng khối lên đá theo đúng vị trí đã ghi, nhưng đảo thứ tự kích hoạt. Khối thứ ba làm nhiệt độ khe giảm không phẩy bốn độ. Khối thứ hai tạo quầng xanh. Khi khối thứ nhất chạm đất, vách vẫn đóng.
Anh thu cả ba, đợi trường nền trở lại rồi lặp đúng thứ tự cũ. Lần này, khe đá mở ra.
Đó có thể là mã truy cập, cũng có thể chỉ là chuỗi hiệu chỉnh mà hệ thống nhận nhầm người sử dụng. Khoa chưa có cách phân biệt. Anh giữ một khối ở mép lối và bước qua trước khi vách khép.
Không khí phía trong lạnh hơn khu sinh thái gần ba độ. Mùi kim loại anh nhận ra đêm trước không đến từ kim loại trần; mọi bề mặt đều được phủ một lớp vật liệu trắng liền mạch, hơi đàn hồi dưới đầu ngón tay. Mùi đi cùng luồng khí thải từ sâu bên trong, lẫn protein nóng và một chất sát khuẩn không giống cồn.
Khoa đứng yên để mắt thích nghi. Không có nguồn sáng riêng biệt. Trần và vách phát quang đều, đủ nhìn rõ nhưng không tạo bóng cứng. Sau lưng, khe đá khép lại quanh khối chèn rồi dừng khi còn một khoảng bằng hai ngón tay.
Anh đánh dấu thời gian bằng nhịp tim. Thiết bị ghi cá nhân đã bị Lya thu khỏi lịch luyện, nên Khoa chỉ mang theo một sợi vật liệu mảnh cắt từ dải đo cũ, sáu mẩu đá và ba khối ren. Những thứ ấy không cho anh dữ liệu phổ hay nhiệt chính xác, nhưng cho anh đường trở lại.
Hành lang đi xuống với độ dốc nhỏ đến mức mắt khó nhận ra. Khoa thả một mẩu đá tròn; nó lăn về phía trước, chậm nhưng liên tục. Hai bên không có chữ, tay nắm hoặc đường nối kỹ thuật. Cứ mỗi mười hai bước, một dải tối chạy ngang sàn. Khi anh vượt qua dải đầu tiên, Cảm Ứng bị nén lại trong một nhịp rồi trở về.
Một cổng đo, Khoa nghĩ. Hoặc một lớp cách ly.
Anh lùi qua. Cảm giác lặp lại theo chiều ngược, yếu hơn. Không chuông báo, không thay đổi ánh sáng. Nếu hệ thống đã nhận ra anh, nó không biểu lộ bằng cách anh hiểu được.
Sau dải thứ ba, hành lang mở vào căn phòng Khoa đã nhìn thấy qua khe đá.
Các cấu trúc trong suốt đứng thành hai hàng, cao hơn người anh một chút. Gần nhất là khung xương chưa hoàn chỉnh, treo trong chất lỏng gần như không màu. Xương chậu và cột sống đã liền; đầu các xương sườn còn kết thúc bằng những dải mô trắng đục. Không có kẹp cơ khí giữ chúng. Những sợi mảnh như mạch máu kéo từ thành khoang tới từng vị trí tăng trưởng, co rất nhẹ theo chu kỳ không đều.
Khoa không đến gần ngay. Anh đi dọc vách, xác định hai lối ra, một hốc thấp có thể trú và khoảng cách tới hành lang. Sau đó anh đặt sợi vật liệu lên nền gần cổng. Luồng khí làm đầu sợi nghiêng về phía một khe thoát ở cuối phòng. Không có dòng hút mạnh, nhưng phòng được duy trì áp suất thấp hơn khu sinh thái một ít.
Khoang thứ hai chứa một lồng ngực hoàn chỉnh hơn. Các lớp cơ đỏ sẫm quấn quanh xương theo từng bó, chưa phủ da. Một màng mỏng phồng lên rồi hạ xuống ở vị trí cơ hoành. Phổi bên trong nở không đều, như đang được thử riêng từng vùng. Tim co bóp chậm dưới lớp mô trong, nhưng không đẩy máu qua toàn bộ cơ thể; các đường dẫn từ thành khoang thay chức năng của mạch lớn.
Khoa đếm mười chu kỳ: bốn mươi hai nhịp mỗi phút, không trùng với tim anh và cũng không giống nhịp lệch đã kéo về phía vùng rễ.
Anh mở Cảm Ứng vừa đủ để nhìn lớp ám chất quanh khoang. Một quầng mờ bám vào mô đang hoạt động, tương tự thứ anh từng thấy quanh cây và nước sống, nhưng không có cấu trúc bao trùm. Ở Lya, các đường sáng liên kết thành một thể thống nhất, thay đổi theo chú ý và ý định. Ở đây, mỗi cụm mô chỉ có phản ứng cục bộ: tim sáng theo co bóp, dây thần kinh lóe dọc đường kích thích, phổi đổi phổ theo dòng khí. Chúng chưa hợp thành một người.
Khoa đóng Cảm Ứng trước khi hiện tượng nhịp thứ hai xuất hiện. Lệnh đình chỉ của Lya có thể nhằm ngăn chính việc này, nhưng nguy cơ không làm dữ liệu bớt cần thiết. Anh chỉ giảm thời gian quan sát.
Khoang thứ ba cho thấy một cơ thể từ vùng bụng trở xuống. Mô da đang lan qua đùi thành một lớp mỏng, nhợt và không có lông. Các đầu ngón chân đã có móng, nhưng vân da còn quá đều. Khoang thứ tư chứa hệ cơ quan rời, mỗi cơ quan nằm trong một trường giữ riêng: gan, hai thận, một đoạn ruột cuộn trong màng dịch. Chúng không phải mẫu bảo quản. Bề mặt gan liên tục xuất hiện những dải tế bào mới, rồi mạch nhỏ mở vào chúng như rễ tìm nước.
Nara không in cơ quan theo từng lớp như thiết bị sinh học Khoa từng biết. Họ tạo điều kiện biên, cấp vật chất và để mô tự tổ chức, nhưng can thiệp ở quy mô đủ nhỏ để từng mạch máu tìm đúng đường. Những sợi từ thành khoang không mang dụng cụ nhìn thấy được. Cảm Ứng cho thấy các điểm sáng chạy dọc chúng, dừng ở nơi tế bào đang phân chia rồi tắt.
Anh nhớ cách Lya mô tả khu sinh thái: điều khiển chênh lệch ở tầng dưới, để vật chất sống chọn đường còn lại. Nguyên tắc ở đây giống nhau; chỉ có đối tượng là cơ thể người.
Khoa đi tới khoang chứa hình người hoàn chỉnh anh đã thấy đêm trước.
Đó là một người Nara hoặc một cơ thể được tạo theo hình thái Nara. Dáng nữ, tóc đen ngắn nổi nhẹ trong chất lỏng, mắt nhắm. Da có màu và các bất toàn rất nhỏ: một vùng sắc tố đậm hơn ở vai, hai nếp không đối xứng bên khóe miệng, móng tay dài khác nhau chưa đến một milimet. Nếu những sai lệch ấy cũng được thiết kế, mục tiêu không phải tạo một vật thể hoàn hảo về hình học.
Lồng ngực nâng lên sau mỗi năm giây, mạch cổ đập và đồng tử co khi ánh sáng trong khoang tăng rất nhẹ.
Khoa nhìn bằng Cảm Ứng.
Không có quầng người.
Hoạt động sinh học tạo những dải sáng rời như ở các khoang trước. Não là vùng mạnh nhất, nhưng tín hiệu chỉ chạy thành các vòng ngắn, lặp lại, không lan thành cấu trúc ổn định bên ngoài mô. Cơ thể sống theo mọi dấu hiệu Khoa có thể quan sát. Nó không ngủ, vì ngủ vẫn có tổ chức mà anh từng thấy quanh Lya lúc nghỉ. Nó cũng không chết.
Một cơ thể không có người ở bên trong là kết luận quá sớm. Cảm Ứng của anh mới ở mức sơ khai và có thể chỉ không nhận được tín hiệu sau lớp khoang. Khoa đổi vị trí, giảm rồi tăng độ mở, so sánh với quầng sinh học của chính bàn tay mình phản chiếu trên bề mặt, nhưng kết quả không đổi.
Anh tìm bảng điều khiển nhưng không thấy. Khi đặt tay cách mặt khoang vài centimet, một lớp ký hiệu hiện trong vật liệu. Chúng không phải chữ Nara anh đã học. Các cụm hình biểu diễn chu kỳ, nhiệt, nồng độ và những đại lượng chưa biết bằng biến thiên độ sáng. Khoa không chạm thêm. Trong một cơ sở sinh học, biểu tượng không hiểu có thể là màn hình, cũng có thể là lệnh.
Ở cuối hàng khoang là một bệ trống có các vòng giữ hình cung. Một đường dẫn dày chạy từ bệ qua vách sang phòng kế bên. Khoa áp đầu sợi vật liệu vào khe cửa; không có luồng khí, nhưng Cảm Ứng nhận ra một dao động đều ở phía sau.
Một phẩy ba giây.
Nhịp lệch đi qua vùng ngực anh ngay sau đó.
Khoa đóng Cảm Ứng. Cảm giác vẫn còn thêm hai nhịp rồi biến mất.
Nguồn không nhất thiết ở sau cánh cửa. Liên kết có thể khiến anh diễn giải phương hướng theo kiến trúc gần nhất, giống não đặt đau nội tạng lên một vùng da không tổn thương. Nhưng sự trùng chu kỳ đủ để anh đánh dấu căn phòng là mục tiêu cần kiểm tra sau cùng.
Từ hành lang phía trước vọng lại một thay đổi rất nhỏ của luồng khí. Khoa lùi vào hốc thấp bên vách khi ánh sáng ở cửa phòng chuyển từ trắng sang xanh nhạt. Một cấu trúc vận chuyển trượt vào mà không có bánh hoặc ray nhìn thấy được. Trên đó là một cơ thể hoàn chỉnh khác, phủ trong màng trong suốt. Hai cánh tay được giữ sát thân; tóc chưa mọc, da còn ánh hồng của mô mới. Không người Nara nào đi kèm.
Các vòng cung trên bệ nâng lên, ôm quanh cấu trúc vận chuyển mà không chạm vào cơ thể. Từ phòng bên, một vật hình cầu đi qua đường dẫn dày.
Nó nhỏ hơn đầu người, bề mặt tối và không phản chiếu ánh sáng theo góc bình thường. Những đường mảnh bên trong hiện ra khi nó đến gần bệ, giống vết nứt phát sáng nhưng có trật tự. Quả cầu dừng phía trên ngực cơ thể.
Khoa giữ Cảm Ứng ở mức thấp. Quả cầu tạo ra một quầng có tổ chức.
Không giống hoạt động rời của mô. Các đường sáng cuộn quanh một vùng trung tâm không vật chất, phân nhánh rồi quay lại chính chúng. Khoa không thể đọc nội dung, nhưng cấu trúc có tính duy trì: khi một nhánh suy yếu, nhánh khác đổi hình để bù. Nó gần với quầng quanh Lya hơn bất kỳ thứ gì trong phòng.
Một sợi sáng từ quả cầu chạm xuống trán cơ thể. Tim trên bệ tăng từ bốn mươi lên năm mươi ba nhịp; não lóe theo từng vùng, không còn lặp những vòng ngắn như trước. Quầng trong quả cầu mờ đi đồng thời một lớp sáng hình thành quanh đầu, ngực và cột sống của cơ thể.
Khoa quên đếm trong gần hai giây rồi bắt đầu lại từ đầu, buộc mình chỉ ghi nhận quan hệ thời gian. Tiếp xúc trước. Thay đổi hoạt động thần kinh sau chưa đến một nhịp. Tim tăng tốc. Quầng cục bộ liên kết thành toàn thể. Bốn hiện tượng có thứ tự, nhưng chưa đủ chứng minh một thứ đã chuyển từ quả cầu sang cơ thể. Quả cầu có thể là thiết bị kích hoạt, mô hình điều khiển hoặc nguồn ám chất. Nó cũng có thể chứa cấu trúc ý thức.
Ánh sáng quanh hình người mạnh dần. Các ngón tay co lại. Mắt vẫn nhắm, nhưng đồng tử chuyển động dưới mí như trong giấc ngủ có mơ.
Rồi Khoa nhận thấy nhịp tim của mình đã đổi.
Không nhanh lên vì sợ. Một chuỗi thứ hai đang đập cạnh nó, yếu nhưng rõ, và lần này chu kỳ của chuỗi không trùng cơ thể trên bệ. Nó đi qua ngực Khoa, kéo về phía cánh cửa có đường dẫn quả cầu, sâu hơn trong cơ sở.
Cơ thể trên bệ hít vào một hơi độc lập đầu tiên, và quầng quanh nó khép kín.
Ánh sáng trong phòng trở lại màu trắng. Cấu trúc vận chuyển trượt sang một lối khác, mang cơ thể đi. Quả cầu đã tối hoàn toàn được đưa ngược về phòng bên.
Khoa chờ đến khi luồng khí ổn định mới rời hốc. Nếu đây là quy trình chữa trị, Nara có thể tạo cơ thể thay thế cho người bị tổn thương rồi đưa một cấu trúc thần kinh đã lưu vào đó. Nếu là sinh sản, quả cầu có thể cung cấp mẫu phát triển mà cơ thể chưa tự hình thành. Nếu là sao chép, người vừa thở có thể chỉ tin mình liên tục với cấu trúc trong quả cầu.
Mỗi giả thuyết dẫn đến một cách hiểu khác về sáu tháng của anh. Không cách nào vô hại.
Khoa nhìn bàn tay mình. Vết bỏng cạnh ngón cái không có. Đường chai mới do dụng cụ Nara tạo thành rõ dưới ánh sáng lạnh. Cơ thể anh có mọi phản ứng sinh học, mọi cảm giác đau, đói và mệt. Điều đó không phân biệt nó với cơ thể vừa rời căn phòng.
Nara đã nói họ cứu anh. Lya chưa từng nói họ giữ nguyên cơ thể anh.
Một tiếng động rất nhẹ phát ra từ hành lang sau lưng. Khoa tắt Cảm Ứng, nhặt sợi đánh dấu và trở về theo các mẩu đá. Không có ai trong ba đoạn hành lang đầu. Ở dải tối thứ hai, lớp trường nén quanh anh lâu hơn lúc vào, như thể đang đọc một thay đổi. Anh không chạy. Chuyển động nhanh sẽ chỉ làm tăng tiếng chân và khiến anh bỏ qua dấu hiệu khóa đang đổi trạng thái.
Khe ra vẫn bị khối ren giữ mở hai ngón tay. Khoa lấy khối, lách qua và để đá khép sau lưng. Nước dưới rễ tiếp tục chảy. Mái trời giả còn ở chu kỳ tối, nhưng quang phổ phía đông đã nhạt hơn; anh ở trong cơ sở lâu hơn dự tính.
“Anh đã thấy gì?”
Lya đứng bên kia dòng nước.
Cô không phát sáng trong Cảm Ứng vì Khoa chưa mở nó. Dưới ánh sáng thường, gương mặt cô không biểu lộ đủ để anh biết cô đã đợi bao lâu.
Khoa đặt ba khối ren xuống đá giữa họ.
“Một cơ thể được tạo từng phần,” anh nói. “Một cơ thể khác bắt đầu có quầng sau khi nối với một quả cầu.”
Lya nhìn khe đá đã đóng, rồi nhìn bàn tay anh. “Anh đã mở Cảm Ứng trong đó.”
“Có.”
“Anh có bám theo nhịp không?”
“Không.”
Đó là câu trả lời đúng theo nghĩa hẹp. Khoa đã ghi hướng, nhưng chưa chủ động lần theo.
Lya bước qua dòng nước. “Chúng ta phải rời vùng này.”
“Cơ thể tôi được tạo trong đó?”
Cô dừng lại.
Khoảng im lặng kéo dài đủ để Khoa nghe nhịp tim thật của mình, sáu mươi tám lần mỗi phút. Chuỗi thứ hai không trở lại.
“Cơ thể anh đang dùng được tạo bởi Nara,” Lya nói.
Câu xác nhận loại bỏ giả thuyết điều trị tái tạo sâu. Nó không xác nhận bản sao, không cho biết cơ thể cũ ở đâu và cũng không giải thích thứ đã được đặt vào cơ thể mới.
“Còn tôi?” Khoa hỏi.
Phổ quanh Lya hiện ra dù anh không chủ động mở Cảm Ứng. Một phản ứng ánh sáng ngắn, sắc, như hệ thần kinh anh tự tăng độ nhạy trước nguy hiểm.
“Phần đó,” cô nói, “không nằm trong căn phòng anh vừa thấy.”
Nhịp lệch đập một lần sau xương ức Khoa.
Rồi nó kéo sâu vào phía sau vách trắng, tới nơi những quả cầu được đưa trở về.