Chương 109
Hồng Lô Tông — Lò Luyện Không Ngủ
21px
Hắn đến cổng thương giao phía nam vào lúc bóng mặt trời đã ngả tây, ánh nắng còn đó nhưng đã mang theo hơi lạnh của chiều muộn.
Cổng chính Hồng Lô Tông nằm về phía bắc, theo hướng Đinh Huyền Cơ chỉ trên tờ địa danh, nhưng hắn không đến đó. Cổng chính là nơi người ta trưng bày bộ mặt của mình, nơi mọi thứ đều chỉnh tề và có thể nhìn thấy. Hắn cần thứ khác.
Hơi nóng từ lò rèn trong vòng tường dội ra từng đợt theo chiều gió tây. Không liên tục, không đều, mà theo nhịp của những chiếc bễ thổi lửa thay nhau hoạt động. Mùi kim loại nung chảy quyện vào bụi than phủ lên mặt đường đá lát. Màu đen của bụi than bám vào kẽ đá từ rất lâu, không phải bụi của một ngày.
Tiếng búa từ bên trong tường đều như trống, không giảm vào buổi chiều hay ngưng khi bóng mặt trời kéo dài ra. Hắn chưa biết nếp sinh hoạt của Hồng Lô Tông, nhưng có vẻ đây là tông môn không dùng bóng tối để nghỉ ngơi.
Hắn dừng cách cổng chừng hai mươi bước, đứng bên một cột đèn linh thạch chưa thắp, rồi quan sát ba loại người qua lại cổng thương giao này.
Loại thứ nhất: thương nhân có bảng hiệu gỗ nhỏ đeo ở thắt lưng, người gác nhìn bảng, ghi vào sổ tay, gật đầu. Thủ tục khoảng mười nhịp thở. Loại này đông nhất, ra vào liên tục, không để ý đến nhau.
Loại thứ hai: đệ tử tông môn phù hiệu Hồng Lô Tông thêu ở ngực áo bên trái, người gác không cần nhìn lâu, đôi khi không cần nhìn gì. Họ đi thẳng vào.
Loại thứ ba không có thứ gì để trưng ra. Trong một canh giờ quan sát, hắn thấy loại này hai lần. Lần đầu: một người đàn ông trung niên tay không, nói vài câu với người gác rồi được một đệ tử ra đón dẫn vào bên trong. Lần thứ hai: hai người mang thùng gỗ nhỏ, không nói gì, người gác nhìn thùng rồi nhìn mặt rồi gật đầu.
Hắn ghi nhận sự khác biệt ấy, tạm thời chưa kết luận.
Hắn mua một tờ thông hành thương nhân tạm thời từ một văn phòng nhỏ cách cổng ba con phố, trả đúng giá ghi trên bảng, không hỏi thêm.
Khu thương mại của Hồng Lô Tông nằm giữa vòng tường trong và vòng tường ngoài, đèn linh thạch đỏ treo cao thay ánh mặt trời đang tàn. Ánh đỏ đó rơi lên mái hiên, lên mặt người, lên đỉnh những cái lọ đan dược xếp ngay ngắn sau kính linh thủy tinh. Mọi thứ trong khu này đều có màu đồng pha đỏ, như thể tông môn muốn người đến đây nhớ mãi rằng mình đang ở đâu.
Hắn đi qua từng quầy mà không dừng lại ngay.
Quầy Tụ Linh Đan: người bán ngồi sau bàn gỗ nặng, hai viên đan mẫu đặt trong khay linh ngọc để khách xem. Hắn hỏi giá. Người bán báo giá, giọng đều như người đọc sổ. Giá cao hơn mức hắn từng hỏi ở thị trấn ven sông một phần ba.
Quầy pháp khí có lò thử linh khí nhỏ đặt ngay trước mặt khách, bất kỳ ai cũng có thể bơm linh khí vào một pháp khí mẫu để cảm nhận phẩm chất. Hắn thử một tấm Hộ Thể Linh Bài cấp Trúc Cơ thấp, đặt tay lên, bơm đúng lượng linh khí tối thiểu. Tấm bài khẽ ấm lên, không hơn.
Quầy Hàn Lộ Tán: người ngồi sau vách gỗ không lộ mặt. Chỉ có một lỗ nhỏ để trao đổi tiền và hàng. Hắn hỏi giá, nghe giá, cúi đầu cảm ơn, bước sang.
Hắn bắt đầu thấy rõ chỗ nào ai cũng vào được, chỗ nào cần người giới thiệu mới qua cửa.
Hắn tìm một quán nước nhỏ bán trà giá rẻ cho thương nhân, chọn chỗ ngồi gần cửa sổ, hướng nhìn bao quát cả khu thương mại lẫn lối đi vào khu vực nội tông phía sau vòng tường trong. Bát trà mang ra; hắn uống một ngụm, hơi ngạc nhiên vì trà không ngon, nhưng nóng đúng mức.
Trong một canh giờ ngồi đó, hắn quan sát theo thói quen cũ: ai vào từ cổng nào, ai được đưa vào mà không cần dừng kiểm tra. Phần lớn là thương nhân đã quen mặt với người gác, đi theo con đường mòn, không ngẩng đầu.
Ngồi lâu hơn, hắn nhận ra một điều khác ở phía tây.
Cổng bên hông phía tây có người mang hàng vào, không trưng bảng hiệu, không được kiểm tra. Nhưng người gác gật đầu trước khi họ đến gần. Không phải gật đầu chào xã giao. Gật đầu kiểu người biết trước.
Trong một canh giờ, hắn thấy việc ấy lặp lại lần thứ hai. Hắn nhìn xuống bát trà, ghi nhớ mà chưa lấy bút ra.
Hắn quay lại quầy pháp khí, mua tấm Hộ Thể Linh Bài đã thử, rồi lấy thêm một viên Tụ Linh Đan từ quầy đầu tiên. Hai thứ đủ để có lý do hợp lệ khi ở trong khu thương mại lâu mà không ai thắc mắc.
Trong lúc người bán gói linh bài lại, hắn hỏi thêm vài câu về quy trình đặt hàng số lượng lớn, giá theo lô, thời gian giao, điều kiện bảo quản khi vận chuyển xa. Người bán trả lời đủ, không nhiều không ít, giọng điệu của người đã giải thích chuyện này hàng trăm lần.
Từ quầy bên cạnh, tiếng hai người đang giao dịch đè lên tiếng búa rèn vọng qua tường. Rồi một câu trôi qua giữa những âm thanh đó, không to không nhỏ, giọng người nói như người nhắc thời tiết buổi sáng, chuyến hàng cổng tây xong chưa.
Không ai nhìn lại; chỉ có hắn dừng đúng một nhịp thở, rồi tiếp tục nghe người bán nói về điều kiện bảo quản.
Hắn rời khu thương mại lúc đêm đã xuống hẳn. Tiếng búa rèn bên trong tường vẫn chưa ngừng, Hồng Lô Tông không có khái niệm tắt lò khi mặt trời lặn. Người trên phố thưa hơn, nhưng các quầy hàng vẫn để đèn.
Chỗ trọ gần cổng nam có căn phòng nhỏ ám mùi khói than nhạt từ tường gạch. Hắn ngồi xuống, lấy bút ký, ghi ngắn vào tờ giấy riêng: tần suất qua cổng tây, khoảng giờ quan sát được, cách người gác phản ứng. Hắn chỉ ghi những gì mắt thấy, chưa thêm phán đoán.
Ghi xong, hắn gấp tờ giấy lại. Không phải vì đã xong, mà vì chưa có đủ để viết thêm.
Cổng tây vẫn mở; sáng mai hắn sẽ đến đó quan sát tiếp.
Hắn dậy trước khi lò rèn đổi ca, rời quán trọ và vòng đến con phố đối diện cổng tây. Từ chỗ khuất sau một mái hiên, hắn vừa nhìn thấy cổng vừa tránh dòng người chuyển hàng.
Tiếng búa chậm lại trong khoảnh khắc đó, đủ để nghe thấy tiếng bánh xe gỗ lăn trên đá lát, tiếng trục xe cọ vào nhau, tiếng người nói nhỏ không thành câu. Hắn nhìn ra phía cổng.
Đoàn người áo xám qua cổng tây lại đến.
Lần này hắn đếm được: bảy người, ba xe hàng phủ vải xám, không có phù hiệu tông môn nào nhưng tất cả đều mặc áo cùng màu xám nhạt không hoa văn. Người gác mở cổng từ bên trong trước khi đoàn đến nơi, không hỏi và cũng không ghi sổ.
Khi đoàn xe khuất hẳn, hắn bước gần cột đá như người xem đường rồi nhìn xuống tờ địa danh Đinh Huyền Cơ trao. Ở góc dưới phải tờ giấy có một nét nhỏ, tách khỏi danh sách địa điểm hắn chưa đến, trông như dấu của người làm ra tờ giấy hơn là một địa danh.
Hắn ngẩng đầu nhìn khung cổng tây. Trên góc trái cột đá có một nét khắc giống dấu trên tờ giấy, từ góc độ đến tỉ lệ. Hắn khó tin đó chỉ là trùng hợp; người khắc dấu và người trao tờ địa danh có thể cùng biết một đầu mối nào đó. Đoàn áo xám đã qua cổng trước mắt hắn, và kẻ để lại dấu trên đá hẳn cũng biết lối này.