Chương 3
Màu xanh đậm
21px
Chương 3: Lớp sơn xanh
Rowan vừa khép sổ tay thì Kati nhìn lại ba thứ trên bàn tiếp nhận. Tấm vé phà, trang sổ phụ Theo giao và cuốn sổ kiểm kê vẫn nằm riêng, không món nào đặt chồng lên món nào.
“Xin cứ giữ chúng như vậy,” cô nói. “Tôi muốn xem phòng bảo tồn, nếu ông cho phép.”
Rowan liếc sang Mara. “Cô dẫn đường được chứ?”
“Được.” Mara nhìn cuốn sổ một thoáng. “Ở đây sẽ không ai động vào nó?”
“Chưa có lệnh của tôi thì không,” Rowan đáp.
Theo đứng lại bên bàn tiếp nhận. Anh nhường lối cho họ, lần này không đưa ra lời nhận xét nào về trang giấy hay tấm vé. Kati đi theo Mara; Rowan khép hàng người phía sau.
Trong phòng bảo tồn, Mara dừng trước một bàn làm việc và chỉ vào chiếc cờ-lê đặt trên đó.
“Chiếc này là của tôi.”
Rowan giơ tay ngăn khi Kati tiến lại gần. “Khoan chạm vào. Tôi cần ghi vị trí của nó trước.”
Kati dừng cách mép bàn một bước. Mara cũng đứng yên, hai tay buông bên người. Rowan mở sổ, ghi lại vị trí chiếc cờ-lê và tình trạng nó đang được đặt, rồi đổi góc nhìn để quan sát mặt kim loại.
Trên cờ-lê có những hạt kim loại nhỏ bám lại. Xen giữa chúng là vài mảnh sơn xanh đậm. Kati nghiêng đầu, giữ nguyên khoảng cách; chiếc bàn không cần thêm một cặp tay tò mò nữa.
“Cô đã thấy những thứ bám trên nó chưa?” Rowan hỏi Mara.
“Tôi thấy chúng bây giờ.” Giọng Mara đều, nhưng mắt cô không rời chiếc cờ-lê. “Đó là dụng cụ cá nhân của tôi. Tôi không biết các hạt ấy là gì.”
“Vậy ta ghi đúng như thế,” Kati nói. “Đừng lau chúng đi. Cũng đừng thử áp cờ-lê vào thứ gì để xem có vừa không.”
Rowan ghi tiếp. “Tôi sẽ cho ghi nhận hiện trạng, bao gói và niêm giữ riêng dụng cụ này để gửi giám định.”
Mara gật đầu. “Việc nó thuộc về tôi không giải thích được những thứ bám trên đó.”
“Không,” Rowan nói. “Nhưng đó là một điều chúng tôi cần ghi.”
Ông hoàn tất việc ghi nhận trước khi bố trí bảo quản chiếc cờ-lê riêng. Suốt lúc ấy, Kati không chạm vào bàn. Mara lùi ra nhường chỗ, dõi theo với vẻ chăm chú của một người quen kiểm tra từng chi tiết trên vật mình phụ trách, dù lần này vật cần giữ nguyên lại là dụng cụ của chính cô.
Rời phòng bảo tồn, họ trở về khu trưng bày. Rowan dừng trước lối tiếp cận gác lửng, xác nhận chỗ họ có thể đứng quan sát rồi nhắc cả hai tránh đoạn lan can đã hư hỏng.
“Chúng ta nhìn từ đây,” ông nói. “Không tiến lại gần mép.”
Kati bước tới vị trí được chỉ. Khoảng hở nơi lan can bật khỏi điểm neo vẫn ở đó. Cô không hướng mắt lên các bu-lông lần này mà nhìn dọc chân lan can, nơi ánh sáng rọi nghiêng lên lớp sơn.
“Ông nhìn chỗ này được không?” cô hỏi.
Rowan đứng cạnh cô, không vượt qua giới hạn mình vừa đặt ra. Kati chỉ từ xa vào một vết nứt ở chân lan can. Vết nứt trông mới; ngay mép nó, lớp sơn xanh đậm bị cạo xước thành một vệt. Bên dưới là kim loại sáng, chưa thấy màu xỉn của phần bề mặt để lộ lâu ngày.
“Tôi thấy vệt sơn,” Rowan nói. Ông cúi thấp hơn một chút để nhìn đúng góc Kati chỉ. “Và phần kim loại lộ ra.”
“Xin ghi lại vị trí ấy. Đừng chạm vào mép nứt.”
Mara nhìn từ phía sau họ. “Màu sơn giống màu những mảnh trên cờ-lê.”
“Nhìn bằng mắt thì giống,” Kati đáp. “Chừng đó chưa chứng minh cờ-lê đã tạo ra vết xước.”
Mara không phản đối. Rowan ghi vị trí vết nứt vào sổ, rồi nhìn lại đoạn lan can như để xác định phần nào phải được giữ nguyên.
“Không tháo ra lúc này,” Kati nói. “Xin bảo vệ riêng vùng mép nứt. Viện Giám định Đô thị có thể đối chiếu sơn, kim loại và dấu công cụ trên lan can với những gì ở cờ-lê, trong điều kiện không làm mất các hạt bám.”
“Và không thử khớp ngay tại đây,” Rowan nói.
“Đúng.”
Ông ghi yêu cầu giám định riêng cho chiếc cờ-lê và dấu vết ở chân lan can. Đoạn lan can vẫn ở nguyên chỗ, vết sơn bị cạo không ai chạm tới. Từ nơi đứng an toàn, Kati nhìn hai mép xanh đậm lần cuối. Chúng giống nhau đủ để cần kiểm tra, nhưng chưa đủ để thay cho kết quả kiểm tra ấy.