Chương 7
Những khoảng chưa được nhìn thấy
21px
Chương 7: Những khoảng không có người nhìn thấy
Cánh cửa khép lại sau bác sĩ March. Rowan vẫn đặt tay trên bìa hồ sơ kiểm tra điểm neo, đúng chỗ ông vừa đóng nó lại. Trên bàn làm việc của Sở Cảnh vụ Sương Cảng, ba bu-lông đã có một kết luận rõ ràng hơn trước: chúng bị nới bằng cờ-lê trước khi Elias Vane tựa vào lan can.
Bên cạnh kết luận ấy chưa có tên người nào.
“Giờ thực hiện cũng chưa có,” Kati nói.
Rowan ngước lên. “Chúng ta biết việc đó xảy ra trước cú ngã.”
“Phải. Nhưng ‘trước’ không phải một giờ trên đồng hồ.” Cô kéo tập ghi chép lại gần bằng một chân trước. “Nếu ghi tên ai vào khoảng ấy ngay bây giờ, ta sẽ khiến kết quả kỹ thuật nói nhiều hơn những gì nó có thể nói.”
Rowan mở bìa hồ sơ ra một lần nữa, nhìn dòng kết luận rồi đóng lại. “Cô muốn kiểm tra hướng nào?”
“Sổ kiểm kê và những lời khai về thời gian. Đó là hai thứ ta có thể đối chiếu, thay vì nhìn mãi vào ba chiếc bu-lông để mong chúng chỉ mặt ai.”
Ông lấy Sổ kiểm kê tiểu họa từ phần hồ sơ riêng. Một biên nhận bảo tồn được đặt cạnh nó. Kati không chạm vào hai tài liệu; cô chỉ nghiêng đầu nhìn mục đã được đánh dấu từ lần xem trước.
“Ta hỏi Mara ở bảo tàng,” Rowan nói.
“Và hỏi lại Theo theo từng lần anh ấy thực sự nhìn thấy người khác. Đừng để một lần đi ngang qua biến thành cả buổi tối.”
Rowan cho hai tài liệu vào bìa mang theo. Ngoài cửa sổ, sương đã nhạt đi trên những mái nhà đối diện, nhưng mặt kính vẫn đủ mờ để Kati không thấy rõ chiếc xe ngựa vừa đi qua dưới phố.
Ở Bảo tàng Hải đăng, phòng bảo tồn yên tĩnh hơn hành lang bên ngoài. Mara Quill đang làm việc tại bàn khi Rowan và Kati bước vào. Cô đặt dụng cụ xuống, dành một khoảng trống trước mặt họ.
Rowan mở Sổ kiểm kê tiểu họa ở mục cần xem và đặt biên nhận bảo tồn bên cạnh. Ông xoay cả hai về phía Mara.
“Chúng tôi muốn đối chiếu mục này,” ông nói.
Mara cúi nhìn. Trên trang sổ, một dòng mực đã bị cạo; phần viết đè không che hết những nét số cũ. Rowan dùng đầu bút chỉ vào con số còn đọc được, rồi chỉ sang con số trên biên nhận. Chúng không khớp hoàn toàn.
“Cô đã xem hai tài liệu này cạnh nhau chưa?” ông hỏi.
“Tôi biết mục kiểm kê có vấn đề,” Mara đáp. “Tôi chưa thể giải thích vì sao hai con số lại khác nhau.”
Kati giữ trang sổ ở một góc nhìn được cả phần cạo lẫn dòng viết đè. “Elias định báo cáo sai lệch này.”
Mara nhìn cô. “Ông ấy đã nói sẽ báo cáo.”
“Vậy ta có một sai lệch ông ấy quan tâm,” Rowan nói. “Chưa có gì trong hai tài liệu này cho biết vì sao mục bị sửa, hoặc ai đã sửa nó.”
Mara gật đầu, nhưng bàn tay cô vẫn đặt sát mép bàn. Kati nhìn lại hai con số. Phần mực còn sót lại cho phép họ nhận ra sự không khớp; nó không kể được ai đã cầm bút, càng không nói người ấy có liên quan đến lan can hay không.
Rowan để bút xuống. “Về buổi tối Elias ngã: cô khai mình ở phòng bảo tồn.”
“Đúng.”
“Nhân viên xác nhận đã thấy cô ở đây vào một số thời điểm. Có người thấy cô lúc 20:15.”
“Tôi đã ở đây lúc đó,” Mara đáp.
“Tôi ghi nhận điều ấy.” Rowan nói chậm, để câu tiếp theo không lẫn với câu trước. “Việc cô được thấy ở đây lúc 20:15 không tự xác nhận cô đã ở đây trước cú ngã. Cô có biết ai quan sát cô liên tục trong khoảng liên quan không?”
“Không,” Mara nói. “Tôi làm việc một mình nhiều lúc.”
Kati liếc về phía sổ công việc của Mara trên bàn, cuốn sổ họ từng dùng để nhìn chữ viết. Mấy nét giống trên mảnh giấy hẹn vẫn chỉ là điều họ đã nhận thấy bằng mắt. Cô không đưa nó ra giữa cuộc đối chiếu này.
Rowan hỏi thêm để xác định lời Mara đang nói về nơi cô nhớ mình có mặt, chứ không phải một khoảng thời gian đã được người khác chứng kiến trọn vẹn. Mara giữ nguyên lời khai. Rowan ghi lại, không gạch bỏ lời cô và cũng không viết bên cạnh nó chữ *đã xác nhận*.
Trước khi đóng bìa, ông chia trang ghi chép thành hai phần. Một bên là điều hai hồ sơ cho thấy: mục kiểm kê bị cạo và viết đè, con số còn đọc được khác biên nhận bảo tồn. Bên kia là điều chúng chưa cho thấy: nguyên nhân sai lệch và người sửa. Ông ghi riêng lời Mara cùng mốc 20:15 được người khác xác nhận.
Kati nhìn theo đầu bút của ông. “Ta nên hỏi Theo thêm một lần. Không phải anh ấy nghĩ Mara ở đây bao lâu, mà là từng lần anh ấy tận mắt thấy cô ấy.”
Rowan đóng bìa. “Ở bàn tiếp nhận.”
Theo Bell có mặt sau quầy. Thấy Rowan đến cùng bìa hồ sơ, anh đặt thứ đang cầm xuống. Kati nhận ra vẻ nhanh nhẹn thường ngày của anh vẫn còn, dù nó không giúp quầy tiếp nhận trông bớt giống nơi hỏi cung.
Rowan không mở đầu bằng lan can. Ông lấy vé phà Theo đã giao ra xem, giữ nó trong tay.
“Chuyến phà phía bắc lúc 18:40,” ông nói. “Anh còn nhớ mình đã nói gì về chuyến ấy không?”
“Tôi có đi chuyến đó.”
“Người soát vé nhớ đã kiểm tra vé của anh. Một hành khách khác nhớ đã thấy anh trên phà.” Rowan ngừng một nhịp. “Người hành khách ấy không thấy anh lên tàu.”
Theo nhìn tấm vé. “Tôi không nói họ thấy tôi lên.”
“Anh cũng nói không nhớ chính xác mình rời bảo tàng lúc nào.”
“Vâng.”
Kati đặt một trang ghi diễn biến xuống quầy, không đẩy nó vào tay Theo. “Vậy mốc 18:40 cho biết anh được nhìn thấy trên chuyến phà ấy. Nó không kể lại anh đã làm gì trước khi lên tàu.”
Theo nhướng mày. “Tôi đã trả lời hết những gì mình nhớ.”
“Chúng tôi đang giữ nguyên câu trả lời đó,” Kati đáp. “Không thêm vào, cũng không bớt đi.”
Rowan chỉ vào một mốc khác trên trang. “19:05 vẫn là thời điểm chúng tôi cần kiểm tra trong diễn biến vụ án. Anh có căn cứ nào để nói mình ở đâu suốt khoảng sau khi được thấy trên phà không?”
Theo nhìn trang giấy rồi lắc đầu. “Tôi không theo dõi từng phút.”
Rowan ghi câu trả lời. Ông không nối 18:40 với 19:05 bằng một nét bút. Kati để yên hai mốc cách nhau trên trang, như chúng vốn cách nhau trong lời chứng.
“Còn Mara,” Rowan nói. “Trước đây anh nói đã thấy cô ấy ở phòng bảo tồn nhiều lần. Hôm nay tôi muốn anh nói theo từng lần anh đi qua.”
Theo tựa nhẹ vào mép quầy, kể lại những lần anh vào hoặc ngang qua phòng bảo tồn và trông thấy Mara ở đó. Rowan hỏi lại mỗi khi Theo dùng những chữ như “lúc ấy” hay “phần lớn”, để xác định anh đang nói về lần mình có mặt, không phải thời gian giữa các lần ấy.
“Giữa những lần đi qua, anh có nhìn thấy cô ấy không?” Rowan hỏi.
“Không. Tôi còn ở quầy và làm việc khác.”
“Vậy anh không thể xác nhận cô ấy ở phòng bảo tồn liên tục.”
“Không thể.”
Kati hỏi: “Anh có nhớ một lần nào tận mắt thấy Mara đủ để xác nhận cô ấy ở đó trong phần thời gian trước cú ngã không?”
Theo im lặng một thoáng rồi đáp: “Tôi không dám nói thế. Tôi nhớ những lần gặp cô ấy, không nhớ sát từng giờ.”
“Được,” Kati nói.
Theo nhìn từ cô sang Rowan. “Thế có nghĩa là cô ấy đã ra ngoài à?”
“Không,” Rowan đáp ngay. “Có nghĩa là anh không quan sát cô ấy trong khoảng đó. Hai điều ấy khác nhau.”
Ông đọc lại những lần Theo nói mình đã thấy Mara để anh xác nhận, rồi ghi riêng phần anh không nhìn thấy. Mốc 19:05 vẫn nằm trên trang diễn biến cần kiểm tra. Không lời nào ở bàn tiếp nhận biến nó thành giờ đã được Theo xác nhận; kết quả kiểm tra điểm neo cũng không cho họ giờ ấy.
Khi Kati và Rowan rời bảo tàng, Theo vẫn đứng sau quầy. Anh không gọi họ lại để sửa lời khai.
Trở về văn phòng Sở Cảnh vụ, Rowan đặt vé phà vào phần hồ sơ của Theo, Sổ kiểm kê tiểu họa vào phần tài liệu bảo tàng và lời khai vừa ghi bên cạnh những lời xác nhận đã có. Ông làm lần lượt, để một tờ giấy không phải gánh hộ việc của tờ khác.
Kati đứng phía bên kia bàn. “Ta có người thấy Theo trên phà lúc 18:40. Ta không có lời chứng về mọi việc anh ấy làm trước và sau mốc đó.”
“Đúng.”
“Ta có người thấy Mara trong phòng bảo tồn ở một số thời điểm, kể cả 20:15. Ta không có người quan sát cô ấy liên tục trước cú ngã.”
Rowan đặt bút ngang trang. “Và khoảng không được quan sát không chứng minh cô ấy đã rời phòng.”
“Cũng như mục kiểm kê sai lệch chưa chứng minh ai sửa nó.” Kati nhìn sang bìa hồ sơ kiểm tra điểm neo. “Ba bu-lông bị nới trước cú ngã. Việc đó chưa cho ta một giờ chính xác hay một cái tên.”
Một tiếng bánh xe lăn qua phố vọng lên từ dưới cửa sổ rồi mất hút. Trong phòng chỉ còn những tập giấy đã được đặt về đúng chỗ, và những khoảng chưa thể điền bằng lời khai hiện có.
Kati nhìn chiếc bìa Rowan giữ riêng mảnh giấy hẹn tìm trong túi áo Elias. “Còn một việc có thể kiểm tra chính thức.”
Rowan theo ánh mắt cô. “Chữ viết?”
“Vài nét trên giấy hẹn giống chữ trong sổ công việc của Mara. Chúng ta đã nhận thấy bằng mắt, nhưng như thế chưa đủ xác định người viết.” Cô nhìn ông. “Ông chuyển mảnh giấy đi giám định chữ viết được không?”
Rowan mở phần ghi nhận vật chứng, kiểm tra lại mục lưu giữ rồi viết yêu cầu. Ông không lấy mảnh giấy ra để họ so nét thêm lần nữa.
“Tôi sẽ chuyển theo thủ tục,” ông nói. “Cho đến khi có kết quả, người viết vẫn chưa được xác định.”
Kati gật đầu. Rowan đặt bút xuống, giữ mảnh giấy hẹn trong bìa vật chứng riêng. Lời hẹn đến gác lửng vẫn là một lời hẹn; tên người đã viết nó còn chờ được kiểm tra.