Chương 8
Những đường nối
21px
Chương 8: Những khoảng trống giữa các mốc giờ
Rowan vừa đặt bút xuống. Chấm mực ở cuối dòng yêu cầu giám định còn ướt; mảnh giấy hẹn vẫn nằm trong bìa vật chứng riêng, không phải thứ để đem ra so nét chữ thêm một lần cho yên lòng.
Ông kiểm tra số ghi nhận trên bìa, ghi mẫu chữ trong sổ công việc của Mara thành một mục đối chiếu riêng, rồi hoàn tất hồ sơ niêm chuyển. Kati đứng bên cạnh, nhìn ông đối chiếu từng số với sổ lưu.
“Cô vẫn thấy những nét ấy giống nhau?” Rowan hỏi.
“Vẫn thấy. Nhưng mắt tôi không thay được chuyên gia.”
“Thật hiếm khi cô từ chối một lời khen dành cho mắt mình.”
“Ông cứ để dành lời khen đến lúc mẫu được chuyển đi.”
Rowan chuyển giấy hẹn và mẫu chữ theo thủ tục, nhận lại ghi nhận chuyển giao rồi mở phần hồ sơ còn lại. Yêu cầu đối chiếu chiếc cờ-lê ở phòng bảo tồn với dấu công cụ tại các điểm neo đã có mã mẫu riêng. Hồ sơ cũng ghi các mẫu sơn, kim loại lấy từ dụng cụ và lan can, trong đó có vết sơn ở mép nứt, đã được gửi tới Viện Giám định Đô thị để đối chiếu vật liệu.
“Chúng đều đang chờ kết quả chính thức,” ông nói.
Kati gật đầu. Chiếc cờ-lê có sơn xanh đậm bám trên nó; lan can cũng mang màu ấy. Nhìn thấy hai điều đó không khó. Khó hơn là xác định dấu công cụ có phù hợp không, vật liệu có tương thích không, và những câu trả lời ấy thực sự cho phép họ nói đến đâu.
Buổi làm việc kết thúc mà không bản kết quả mới nào xuất hiện. Trên bàn, Rowan để lại đúng những khoảng trống dành cho chúng.
*
Hơn một ngày sau khi yêu cầu giám định chữ viết được gửi đi, Rowan nhận các bản kết quả chính thức tại văn phòng Sở Cảnh vụ. Ông chưa đọc ngay. Trước mặt Kati, ông lần lượt so mã mẫu, nguồn lấy mẫu và ghi nhận chuyển giao với những yêu cầu lưu trong hồ sơ. Khi các mục ấy khớp nhau, ông mới đặt bản đối chiếu dấu công cụ lên bàn.
“Chiếc cờ-lê trước,” ông nói.
Kết luận ghi dấu của chiếc cờ-lê ở phòng bảo tồn phù hợp về kích thước và hình dạng với dấu tại điểm neo. Những hạt kim loại và mảnh sơn bám trên dụng cụ tương thích với vật liệu ở lan can, bao gồm phần sơn xanh đậm tại mép nứt mới, nơi lớp kim loại sáng bên dưới còn lộ ra.
Kati kéo bản kiểm tra ba bu-lông lại gần. Những vết xước mới và bụi bị gián đoạn đã cho thấy các bu-lông bị nới bằng cờ-lê trước khi Elias tựa vào lan can. Bản kết quả mới giúp thu hẹp câu hỏi về dụng cụ; nó không ghi ai đã cầm dụng cụ ấy.
“Phù hợp về dấu, tương thích về vật liệu,” cô nói. “Không phải một bản nhận diện người sử dụng.”
“Và cũng không định được giờ nới bu-lông,” Rowan đáp.
“Phải. Ta biết việc đó xảy ra trước cú ngã. Chưa biết chính xác lúc nào.”
Rowan chuyển sang kết quả chữ viết. Ông đọc cả phần mô tả mẫu đối chiếu rồi mới đến kết luận: nhiều nét đặc trưng trên mảnh giấy hẹn phù hợp với chữ của Mara.
Kati đặt bản ghi lời nhắn cạnh đó. Mảnh giấy tìm trong túi áo Elias mời ông đến khu trưng bày trên gác lửng.
“Lời hẹn hướng ông ấy tới nơi có đoạn lan can bị nới,” cô nói.
“Và chữ trên đó phù hợp chữ Mara.”
Kati nhìn dòng kết luận thêm một lần. “Chuyên gia đã so chữ. Họ không chứng kiến Mara viết lời hẹn. Kết quả này cũng không nói các bu-lông bị nới vào giờ nào.”
Rowan để ba bản kết quả cạnh nhau, không chồng bản nào lên bản nào. Kati cũng không vội lấp khoảng cách giữa chúng bằng một câu chuyện hoàn chỉnh.
*
Ở Bảo tàng Hải đăng, Mara đón họ trong phòng bảo tồn. Trên chiếc bàn làm việc gọn ghẽ, Rowan đặt bản ghi mục trong Sổ kiểm kê tiểu họa cạnh biên nhận bảo tồn mà cả ba đã xem lần trước.
“Chúng tôi hỏi lại đúng mục này,” ông nói. “Dòng mực bị cạo và viết đè. Con số còn đọc được không khớp hoàn toàn với biên nhận. Cô có giải thích được không?”
Mara cúi xem hai trang giấy. Cô dành thời gian cho chúng như người kiểm tra một hiện vật trước khi chịu kết luận rằng nó đã an toàn.
“Không,” cô đáp. “Tôi vẫn không giải thích được.”
“Cô có biết ai sửa dòng ấy không?” Rowan hỏi.
“Tôi không biết.”
Kati để Mara nói hết rồi mới lên tiếng. “Sai lệch này cần được làm rõ. Nhưng chỉ riêng nó chưa chứng minh tiểu họa đã bị tráo, ai đã sửa sổ, hay ông Elias có dự định báo cáo chuyện gì.”
Mara ngẩng lên. “Nếu vậy, tại sao các vị cứ hỏi tôi?”
“Vì chúng tôi phải hỏi người có thể giúp giải thích hồ sơ,” Kati đáp. “Và vì câu trả lời của cô cũng cần được ghi đúng như nó vốn có.”
Mara nhìn sang Rowan. “Tôi đã nói mình ở phòng bảo tồn.”
“Có người thấy cô ở đây lúc 20:15,” Kati nói. “Theo cũng chỉ kể những lần anh ấy đi qua và trông thấy cô. Không ai trong những lời khai ấy xác nhận cô ở đây liên tục trước cú ngã.”
“Tức là cô cho rằng tôi đã rời phòng?”
“Tôi nói rằng lời chứng không trả lời được câu hỏi đó.” Kati giữ giọng đều. “Một người có thể đã tác động vào lan can vào khoảng 19:05 rồi được thấy ở đây lúc 20:15. Nhưng việc cô được thấy lúc 20:15 cũng không chứng minh cô đã tác động vào lan can đúng 19:05. Giờ nới bu-lông vẫn chưa được xác định.”
Mara đặt tay xuống mép bàn. “Tôi không có lời giải thích nào khác về mục kiểm kê. Tôi cũng không có gì để thêm về khoảng thời gian ấy.”
Rowan ghi nhận câu trả lời. Họ rời phòng bảo tồn mà không đòi Mara xác nhận một việc các phép giám định chưa tự xác nhận.
*
Theo ngồi đợi trong một phòng làm việc khác của bảo tàng. Vừa thấy trang ghi về sổ phụ trong tay Rowan, anh đã thôi mân mê mép ghế.
“Trang sổ phụ anh giao cho chúng tôi,” Rowan nói. “Có điều gì về việc anh lấy nó mà trước đây anh chưa nói rõ không?”
Theo im lặng một lúc. “Tôi đã lấy trang ấy. Tôi giấu chuyện đó vì sợ bị xử lý.”
“Anh sợ nên để chúng tôi phải tự hỏi vì sao anh có nó,” Rowan nói.
“Tôi biết.” Theo nhìn lên. “Nói ra bây giờ cũng chẳng làm chuyện ấy tốt hơn.”
“Không,” Rowan đáp. “Nhưng tôi sẽ ghi đúng điều anh vừa nhận.”
Ra ngoài hành lang, Kati khép cuốn sổ ghi chép. “Anh ấy nói dối để che việc lấy trang sổ phụ. Lời nói dối ấy không cho ta giờ nới bu-lông, càng không chỉ ra người nới.”
Rowan gật đầu.
“Người soát vé đã kiểm tra vé của Theo trên chuyến phà 18:40; một hành khách khác thấy anh ấy trên phà,” Kati nói tiếp. “Những lời chứng ấy không kể hết việc anh ấy làm trước khi lên tàu. Còn dấu tay anh ấy trên lan can nằm dưới lớp sơn phủ cũ, không phải dấu mới ở điểm neo. Không thể lấy chuyện anh ấy giấu trang sổ để biến các kết quả ấy thành chứng cứ đồng phạm.”
Họ rời bảo tàng. Không ai trong hai người ghi lời Theo nhận là câu trả lời cho giờ phá hoại.
*
Khi trở lại Sở Cảnh vụ, Rowan dành phần giữa bàn cho các kết quả mới. Kati xếp bản kiểm tra điểm neo trước, kế đó là đối chiếu chiếc cờ-lê, mảnh giấy hẹn và mục kiểm kê.
“Bắt đầu từ điều đã xác nhận,” cô nói. “Ba bu-lông bị nới bằng cờ-lê trước khi Elias tựa vào lan can. Chiếc cờ-lê ở phòng bảo tồn phù hợp về dấu công cụ tại điểm neo; sơn và kim loại bám trên nó tương thích với vật liệu ở lan can, kể cả vết sơn ở mép nứt.”
“Nhưng chưa xác định người cầm,” Rowan nói.
“Chưa. Kế đến là lời hẹn trong túi Elias, mời ông ấy lên gác lửng. Nhiều đặc điểm chữ viết phù hợp chữ Mara. Rồi đến mục kiểm kê tiểu họa: bị cạo, viết đè, con số không khớp biên nhận. Mara đã xem lại và không giải thích được.”
Kati đặt đầu ngón tay cạnh các trang giấy, không chạm vào phần chữ.
“Lời giải của tôi là Mara đã tráo tiểu họa. Tôi cho rằng sai lệch trong sổ liên quan đến việc che giấu sự tráo đổi; Elias có thể đã nhận ra và định báo cáo. Mara hẹn ông lên gác lửng, nơi lan can đã bị nới, để ngăn ông làm việc đó. Tôi xác định cô ấy là người đứng sau cái chết của Elias.”
Rowan nhìn cô, rồi nhìn mục kiểm kê. “Cô đang nói mạnh hơn điều bản giám định ghi.”
“Đúng. Không phép đối chiếu nào xác nhận riêng tiểu họa đã bị tráo. Chúng ta cũng chưa xác định ai sửa dòng sổ, và chưa có xác nhận độc lập rằng Elias định báo cáo. Đó là những phần suy luận trong lời giải của tôi, cần kiểm chứng tiếp. Cũng như dấu trên cờ-lê và chữ viết phù hợp không phải lời chứng trực tiếp rằng Mara cầm cờ-lê hay tự tay viết giấy hẹn.”
Rowan ghi tách các ý ấy thành hai phần. “Còn 19:05?”
“Một thời điểm khả dĩ khi dựng lại khoảng trước cú ngã, không phải giờ phá hoại đã được chứng minh. Lời chứng thấy Mara trong phòng bảo tồn lúc 20:15 không bác bỏ một hành động trước đó; nó cũng không đặt cô ấy ở điểm neo lúc 19:05.”
“Và Theo?”
“Anh ấy che chuyện lấy trang sổ phụ vì sợ bị xử lý. Tôi không xem anh ấy là đồng phạm chỉ vì đã giấu chuyện ấy.” Kati nhìn sang Rowan. “Dấu tay của ông ở mặt ngoài lan can, phù hợp với việc ông chạm vào đó sau cú ngã. Bất đồng giữa ông và Elias không đổi được vị trí hay thời điểm của dấu tay. Tôi cũng không xem ông là đồng phạm.”
Rowan đọc lại những gì mình vừa ghi. Ông không xóa các chỗ còn phải kiểm chứng, cũng không gộp chúng vào phần kết quả giám định.
“Tôi ghi nhận kết luận của cô,” ông nói. “Cùng với giới hạn của từng chứng cứ. Sở sẽ tiếp tục các thủ tục cần thiết.”
Kati gật đầu. Trên bàn, những bản kết quả nằm cạnh các lời khai và mục sổ sai lệch. Chúng đủ để cô trình bày một lời giải về cái chết của Elias Vane; những chỗ chưa được xác nhận vẫn nằm rõ trên trang giấy của Rowan, chờ bước kiểm chứng tiếp theo.